Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
125-127. Các loại luật lệ
1. LUẬT HOÀN VŨ VÀ LUẬT ĐỊA PHƯƠNG
“Các luật phổ quát bó buộc mọi nơi đối với hết mọi người mà luật chi phối.
Các luật phổ quát nào không có hiệu lực trong một lãnh thổ nhất định thì không bó buộc những người hiện đang ở trong nơi ấy.
Các luật được ban bố cho một lãnh thổ riêng biệt thì bó buộc những người mà luật nhằm đến, nếu họ có cư sở hoặc bán cư sở và hiện đang cư trú tại đó, miễn là duy trì qui định nơi điều 13 sau đây.” (Ðiều 12)
“Các luật địa phương không được suy đoán là tòng nhân nhưng tòng thổ, ngoại trừ khi đã rõ cách khác.
Những người được kể là lữ khách không bị bó buộc giữ:
- Những luật địa phương thuộc lãnh thổ của mình khi họ đã ra khỏi nơi ấy, trừ khi sự vi phạm những luật ấy gây thiệt hại trong lãnh thổ mình, hoặc vì luật có tính cách tòng nhân.
- Những luật của lãnh thổ nơi họ đang ghé qua, ngoại trừ những luật nhằm bảo vệ trật tự công cộng, xác định các thể thức của các hành vi hay liên can đến các bất động sản nằm trong lãnh thổ họ đang ghé qua.
Các người được coi là vô gia cư buộc phải giữ những luật phổ quát và luật địa phương hiện hành tại nơi mà họ ghé qua.” (Ðiều 13)
2. THÓI QUEN, TỤC LỆ
"Một tục lệ do cộng đồng tín hữu du nhập chỉ có giá trị pháp lý một khi được nhà lập pháp chuẩn y, dựa theo những qui tắc của các điều luật sau đây:”. (những điều 25; 26; 27; 28). (Ðiều 17)
“Tục lệ là luật bất thành văn đã và đang được cộng đồng tuân giữ, tục lệ không được thiết lập do nhà lập pháp và cũng không bao giờ được ban hành. Một tục lệ có thể trở thành một điều luật khi được nhà lập pháp chấp nhận chuẩn y. Có thể xếp tục lệ làm ba loại:
- Các tục lệ hợp với luật pháp;
- Các tục lệ trái với luật pháp và
- Các tục lệ ngoại luật. "Không một tục lệ nào trái ngược với thiên luật có thể có hiệu lực pháp lý. Tục lệ trái ngược hoặc ở ngoài Giáo luật cũng không có hiệu lực pháp lý, nếu nó không hợp lý. Tuy nhiên, tục lệ nào đã bị minh thị bài bác thì không còn phải là hợp lý nữa.” (Ðiều 24)
"Không tục lệ nào có thể có hiệu lực pháp lý nếu không được tuân hành do một cộng đồng ít nhất là có khả năng thụ nhận một luật, với ý định du nhập luật lệ.” (Ðiều 25)
“Một cộng đồng không có khả năng tuân giữ luật lệ ban hành do nhà lập pháp được coi như một cộng đồng sống không có luật lệ dù là luật bất thành văn (tục lệ). Trừ khi được đặc biệt chuẩn y bởi nhà lập pháp có thẩm quyền, một tục lệ trái luật hay ngoại luật chỉ đạt được hiệu lực pháp lý nếu đã được tuân hành hợp lệ trong khoảng thời gian ba mươi năm tròn không gián đoạn. Tục lệ trái ngược với một điều luật có kèm khoản ngăn cấm các tục lệ tương lai thì thỉ có giá trị nếu đã được một trăm năm hay là từ lâu đời.” (Ðiều 26)
“Nhà lập pháp có thẩm quyền có thể chuẩn y một tục lệ bằng ba cách:
- Đồng ý bằng ngôn từ hay bằng văn bản;
- Giữ im lặng khi được biết có một tục lệ như thế hiện hữu;
- Pháp lý hóa một tục lệ bằng cách hệ thống hóa với luật lệ hiện hành.Và luật pháp đặt căn bản trên những thói quen tục lệ nên: "Tục lệ là nguồn giải thích tốt nhất của luật pháp.”. (Ðiều 27)
3. LUẬT DÂN SỰ
“Khi Luật Giáo hội qui chiếu về luật dân sự, thì luật dân sự phải được tuân hành với những hiệu quả của nó trong Giáo luật, miễn là không trái với Thiên luật và nếu luật Giáo hội không qui định cách khác.” (Ðiều 22)