Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân 72-80. Quyền lợi và nghĩa vụ của giáo dân
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân 72-80. Quyền lợi và nghĩa vụ của giáo dân
Document Actions

Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân

72-80. Quyền lợi và nghĩa vụ của giáo dân

Trong mục này, tác giả chỉ đề cập đến những tín hữu không thuộc hàng giáo sĩ. Số tín hữu này là phần đông nhất kết hợp thành Giáo hội. Điều 207 của Bộ Giáo luật hiện hành qui định như sau:

“Do sự thiết lập của Thiên Chúa, giữa các tín hữu trong Giáo hội, có các thừa tác viên có chức Thánh, trong luật được gọi là các Giáo sĩ; còn các người khác gọi là Giáo dân.

Trong cả hai thành phần vừa nói, có những tín hữu tận hiến cho Thiên Chúa một cách đặc biệt và đóng góp vào sứ mệnh cứu rỗi của Giáo hội bằng việc tuyên giữ các lời khuyên Phúc Âm qua lời khấn hoặc qua mối dây ràng buộc thánh thiện khác, được Giáo hội công nhận và phê chuẩn. Hàng ngũ của họ không thuộc về cơ cấu phẩm trật của Hội Thánh, nhưng thuộc về đời sống và sự thánh thiện của Giáo hội.” (Ðiều 207)

 

1.        TRÁCH NHIỆM QUYỀN LỢI CỦA GIÁO DÂN

“Các giáo dân, với những nghĩa vụ và quyền lợi chung dành cho tất cả các các tín hữu Kitô giáo và những gì được ấn định trong các điều luật khác, họ còn có những nghĩa vụ và quyền lợi được nói tới trong những điều luật của thiên này.” (Ðiều  224)

 

2.        VIỆC TÔNG ĐỒ GIÁO DÂN

“Xét vì các giáo dân cũng như mọi tín hữu được Thiên Chúa ủy thác thực hiện việc tông đồ qua việc lãnh nhận Bí tích Rửa tội và Bí tích Thêm sức, nên họ có nghĩa vụ tổng quát và có quyền lợi xét theo từng cá nhân hoặc kết hợp thành hiệp hội, phải làm sao để sứ điệp cứu rỗi của Thiên Chúa được mọi người khắp thế giới biết đến và đón nhận. Nghĩa vụ này lại càng thôi thúc hơn trong những hoàn cảnh mà chỉ có thể nhờ các giáo dân, người ta mới có thể nghe đến Phúc Âm và biết Đức Kitô.

Tùy theo điều kiện riêng của từng người, các giáo dân có bổn phận riêng phải làm thấm nhập và kiện toàn trật tự trần thế với tinh thần Phúc Âm; và như vậy, họ làm chứng cho Đức Kitô, đặc biệt khi điều hành các sự việc trần thế cũng như lúc thi hành các chức vụ dân sự trong đời sống.” (Ðiều 225. §1§2)

 

3.        VỢ CHỒNG, CHA MẸ

“Những ai sống trong bậc vợ chồng theo ơn gọi riêng thì có bổn phận đặc biệt phải cố gắng xây dựng dân Chúa qua hôn nhân và gia đình.

Các cha mẹ, vì truyền thụ sự sống cho con cái nên có nghĩa vụ rất nghiêm trọng và quyền lợi giáo dục chúng. Vì thế, trách nhiệm đầu tiên của các cha mẹ Kitô giáo là lo bảo đảm sự giáo dục Kitô giáo cho các con cái hợp với giáo huấn của Giáo hội.” (Ðiều 226. §1§2)

 

4.        TỰ DO TRONG TRÁCH NHIỆM TRẦN THẾ

“Các giáo dân có quyền được nhìn nhận sự tự do dành cho mọi công dân trong lãnh vực trần thế. Nhưng khi sử dụng quyền tự do này, họ phải lo sao cho mọi hành động của họ được thấm nhập bằng tinh thần Phúc âm, và họ phải để ý đến đạo lý do quyền giáo huấn của Giáo hội đề ra, tuy phải tránh trình bày ý kiến riêng của mình trong vấn đề còn đang được tranh luận như là giáo huấn của Giáo hội.” (Ðiều 227)

 

5.        TRỢ GIÚP GIÁO HỘI BẰNG KHẢ NĂNG

“Các giáo dân nào được nhận thấy có khả năng thì có năng cách để các chủ chăn nhận thấy và mời đảm nhận các chức vụ trong Giáo hội và các nhiệm vụ mà họ có thể hành sử được, chiếu theo qui tắc luật định.

Các giáo dân nào xuất sắc trong sự hiểu biết, khôn ngoan và thanh liêm thì có năng lực để giúp đỡ các chủ chăn của Giáo hội với tư cách chuyên viên hoặc cố vấn, kể cả trong các Hội đồng tư vấn theo các qui tắc luật định.” (Ðiều 228. §1§2)

 

6.        QUYỀN DẠY CÁC THÁNH KHOA

“Để có thể sống theo đạo lý Kitô giáo và để loan báo và bảo vệ đạo lý ấy khi cần và để có thể thi hành phận vụ mình trong công việc tông đồ, các giáo dân có nghĩa vụ và quyền lợi thủ đắc sự hiểu biết đạo lý hợp với khả năng và điều kiện riêng của mỗi người.

Họ cũng có quyền thủ đắc sự hiểu biết sâu xa hơn trong lãnh vực thánh khoa được dạy trong các đại học, hoặc các phân khoa của Giáo hội trong các trường dạy tôn giáo, bằng cách theo các lớp giảng và đạt được các bằng cấp chuyên môn.

Cũng thế, khi họ chu tất những gì luật đòi buộc, họ có năng cách để được thẩm quyền hợp pháp của Giáo hội ủy nhiệm dạy các thánh khoa.” (Ðiều 229. §1§2§3)

 

7.        QUYỀN NHẬN CÁC TÁC VỤ

“Các giáo dân thuộc nam giới có đủ tuổi và điều kiện, do nghị định của Hội đồng Giám mục ấn định có thể lãnh tác vụ đọc sách hoặc giúp lễ theo luật phụng vụ đã qui định. Tuy nhiên, việc trao tác vụ này không cho họ quyền được Giáo hội trợ cấp hoặc trả lương.

Các giáo dân có thể được chỉ định tạm thời đảm nhiệm việc đọc sách trong các nghi lễ phụng vụ. Cũng thế, tất cả các giáo dân có thể thi hành công tác của người chú giải phụng vụ, ca trưởng, hoặc những công tác khác theo qui tắc luật định.

Nơi nào nhu cầu Giáo hội đòi hỏi và thiếu thừa tác viên, thì các giáo dân dù không có tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, Rửa tội và giúp trao Mình Thánh Chúa theo các qui tắc luật định.” (Ðiều 230. §1§2§3)

 

8.        QUYỀN NHẬN TRỢ CẤP

“Các Giáo dân nào được bổ nhiệm vào công tác đặc biệt của Giáo hội, dù thường xuyên hay tạm thời, thì có bổn phận thủ đắc sự huấn luyện thích hợp để có thể chu toàn nhiệm vụ của họ; họ cũng có bổn phận thi hành nhiệm vụ cách ý thức, tận tâm và cần mẫn.

Tuy vẫn giữ nguyên vẹn điều 230, §1 ghi trên, họ có quyền được nhận thù lao xứng đáng tùy theo điều kiện của họ, ngõ hầu có thể được chu cấp xứng hợp các nhu cầu riêng cho chính họ và nhu cầu của gia đình họ; trong vấn đề này, phải giữ các quy tắc của dân luật nữa. Ngoài ra, họ có quyền hưởng bảo hiểm, an ninh xã hội và trợ cấp y tế.” (Ðiều 231. §1§2)

by frjoe — last modified 2007-07-18 04:20

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.