Việc phân biệt thể nhân và pháp nhân có trong tất cả các nền pháp chế trên thế giới. Thể nhân là một con người bằng xương bằng thịt, có nghĩa là một người hiện hữu trong xã hội, đóng góp, chia sẻ vào những sinh hoạt của xã hội và dĩ nhiên bị chi phối bởi luật lệ của xã hội ấy. Khi nhiều thể nhân họp lại với nhau để lập thành một nhóm với một danh hiệu được luật pháp chấp nhận thì nhóm đó được gọi là pháp nhân.
Cá nhân hay thể nhân sẽ mai một theo thời gian hơn kém một trăm năm; nhưng pháp nhân hay các đoàn thể, tổ chức thường tồn tại lâu bền hơn.
Những thể nhân trong Giáo hội Công giáo:
“Do Bí tích Rửa tội, con người được tháp nhập vào Giáo hội của Đức Kitô và thủ đắc nhân cách trong Giáo hội, với các nghĩa vụ và quyền lợi riêng của các tín hữu Kitô, chiếu theo điều kiện của mỗi người, miễn là họ duy trì sự hiệp thông với Giáo hội và không bị ngăn trở bởi một chế tài đã được tuyên bố cách hợp lệ.”. (Ðiều 96)
Chỉ những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa tội trong Giáo hội Công giáo, hoặc đã lãnh nhận Bí tích này trong một Giáo hội không Công giáo, nhưng sau đó được đón nhận vào Giáo hội Công giáo mới bị chi phối do luật Giáo hội.
2.TUỔI TÁC CỦA CÁC THỂ NHÂN
Tùy theo tuổi tác một cá nhân được hưởng tư cách pháp nhân trong Giáo hội:
Cách tính tuổi theo Giáo luật: được kể là một tuổi khi tính từ ngày sinh ra cho “đến hết ngày” cùng ngày với ngày sinh ấy một năm sau. Giáo luật không chấp nhận thói quen của người Việt Nam tính thêm một tuổi vào ngày đầu năm âm lịch (Tết Nguyên Đán).
“Người đã được mười tám tuổi trọn là kẻ trưởng thành; trước tuổi ấy là vị thành niên. Vị thành niên, trước khi được bảy tuổi trọn được gọi là nhi đồng, và được coi như không tự chủ; một khi đã được bảy tuổi trọn thì được suy đoán là biết sử dụng trí khôn. (Ðiều 97)
“Người trưởng thành được sử dụng đầy đủ các quyền lợi của mình.” (đ.98,1).
“Những người thường xuyên thiếu sử dụng trí khôn cũng coi như thiếu tự chủ và được đồng hóa với các nhi đồng.” (Ðiều 99)