Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
145-154. Luật Cư Trú
1. CƯ TRÚ CỦA THỂ NHÂN.
Nơi cư trú của các thể nhân cũng chi phối tư cách pháp nhân của một cá thể:
“Một người được coi là thường trú nhân tại nơi mà họ có cư sở; khách trú nhân tại nơi họ có bán cư sở; lữ khách nếu họ ở ngoài cư sở và bán cư sở tuy vẫn còn duy trì chúng; vô gia cư nếu không có cư sở và bán cư sở ở nơi nào hết.” (Ðiều 100)
Một người có được cư sở do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một Giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó vĩnh viễn nếu không có gì ngăn trở, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài được năm năm tròn. Một người có được bán cư sở do việc trú ngụ như trên nhưng kèm theo ý định chỉ ở lại ba tháng, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài được ba tháng. (Ðiều 102)
“Vợ chồng có chung cư sở và bán cư sở. Vì lý do ly thân hợp pháp hay vì lý do chính đáng nào khác mỗi người có thể có một cư sở hay bán cư sở riêng.” (Ðiều 104)
Do cư sở và bán cư sở mà một người có Cha Sở và Bản quyền riêng: Cha Sở và Bản quyền riêng của người vô gia cư là Cha Sở và Bản quyền tại nơi mà người ấy hiện đang trú ngụ. (xem đ.107)
Cư sở và bán cư sở bị mất do việc đi khỏi nơi ấy với ý định không trở về. (Ðiều 106)
“Nguyên quán của người con, dầu là con của người tân tòng, là nơi khi đứa trẻ sinh ra cha mẹ đang có cư sở hay bán cư sở; nếu cha mẹ không có chung cư sở hay bán cư sở thì lấy nơi của người mẹ. Nếu là con của người vô gia cư thì nguyên quán là chính nơi đã được sinh ra; nếu đứa trẻ bị bỏ rơi, thì nguyên quán là nơi nó đã được tìm thấy.”. (Ðiều 101)
2. XÁC ĐỊNH CƯ SỞ.
“Cư sở được thủ đắc do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một Giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một Giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó vĩnh viễn nếu không có gì ngăn trở, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài năm năm tròn.
Bán cư sở được thủ đắc do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một Giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một Giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó ba tháng nếu không có gì ngăn trở, hoặc việc trú ngụ đã thực sự kéo dài trong ba tháng.” (Ðiều 102)
“Vị thành niên bắt buộc lấy cư sở và bán cư sở của người mà họ phải phục quyền. Vị thành niên quá tuổi nhi đồng có thể thủ đắc bán cư sở riêng; và kể cả cư sở riêng, nếu đạt được thoát quyền cách hợp lệ theo dân luật.”. (Ðiều 105, §1)
3. MẤT CƯ SỞ.
“Cư sở và bán cư sở bị mất do việc đi khỏi nơi ấy với ý định không trở về, đừng kể khi phải giữ qui định của điều 105 ở trên.”. (Ðiều 106)
4. LUẬT CƯ TRÚ
“Một người được coi là thường trú nhân tại nơi mà họ có cư sở; khách trú nhân tại nơi có bán cư sở; lữ khách nếu họ ở ngoài cư sở và bán cư sở tuy vẫn còn duy trì chúng; vô gia cư nếu không có cư sở và bán cư sở ở nơi nào hết. (Ðiều 100)
5. NGUYÊN QUÁN
“Nguyên quán của người con, dầu là con của người tân tòng, là nơi mà khi đứa trẻ sinh ra, cha mẹ có cư sở hay bán cư sở; nếu cha mẹ không có chung cư sở, thì lấy nơi của người mẹ.
Nếu là con của người vô gia cư, thì nguyên quán là chính nơi đã sinh; nếu đứa trẻ bị bỏ rơi, thì nguyên quán là nơi nó đã được tìm thấy.” (Ðiều 101)
6. CƯ SỞ VÀ BÁN CƯ SỞ
“Cư sở được thủ đắc do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một Giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó vĩnh viễn nếu không có gì ngăn trở, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài năm năm tròn.
Bán-cư-sở được thủ đắc do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một Giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó ba tháng nếu không có gì ngăn trở, hoặc biệc trú ngụ đã thực sự kéo dài trong ba tháng.
Cư sở hay bán cư sở trong lãnh thổ của một giáo xứ được gọi là thuộc giáo xứ, trong lãnh thổ một Giáo phận, tuy không ở trong một giáo xứ, được gọi là thuộc Giáo phận.” (Ðiều 102)
7. CƯ SỞ VÀ VỢ CHỒNG
“Vợ chồng có chung cư sở và bán cư sở. Vì lý do ly thân hợp pháp hay vì lý do chính đáng nào khác mỗi người có thể có một cư sở hay bán cư sở riêng. (Ðiều 104).
8. CƯ SỞ CỦA VỊ THÀNH NIÊN
“Vị thành niên bắt buộc lấy cư sở và bán cư sở của người mà họ phải phục quyền. Vị thành niên quá tuổi nhi đồng có thể thủ đắc bán cư sở riêng; và kể cả cư sở riêng, nếu đạt được thoát quyền cách hợp lệ theo dân luật.
Kẻ nào được giao cho người khác quản tài hay giám hộ cách hợp lệ ngoài lý do vị thành niên, thì lấy cư sở hay bán cư sở của người quản tài hay giám hộ. (Ðiều 105)
9. CHA SỞ VÀ BẢN QUYỀN
“Do cư sở và bán cư sở mà mỗi người có Cha Sở và Bản quyền riêng.
Cha Sở và Bản quyền riêng của người vô gia cư là Cha Sở và Bản quyền tại nơi mà người ấy hiện đang trú ngụ.
Cha Sở riêng của người nào chỉ có cư sở và bán cư sở thuộc Giáo phận là Cha Sở tại nơi mà người ấy hiện đang trú ngụ.” (Ðiều 107)
10. QUYỀN CỦA MỘT THỂ NHÂN.
Người trưởng thành được sử dụng đầy đủ các quyền lợi của mình.
Trong việc sử dụng quyền lợi, vị thành niên lệ thuộc quyền hành của cha mẹ hay giám hộ, trừ những phương diện nào mà các vị thành niên đã thoát quyền hành của những người ấy do luật của Thiên Chúa hay luật của Giáo hội. Về việc thiết lập và quyền hành giám hộ, phải tuân giữ dân luật, trừ khi Giáo luật định cách khác, hoặc Giám mục Giáo phận vì lý do chính đáng, trong những trường hợp nhất định, xét thấy phải chỉ định một giám hộ khác. (Ðiều 98)
Ai thường xuyên thiếu sử dụng trí khôn cũng coi như thiếu tự chủ và được đồng hóa với các nhi đồng. (Ðiều 99)