Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
113. Quyền lập pháp trong giáo hội
Sau khi đã có được khái niệm về luật pháp và luật lệ trong Giáo hội, chúng ta có thể nhìn vào Giáo hội để tìm hiểu những cơ quan hay nhân sự được trao quyền đặt ra luật. Qua đó, mỗi tín hữu sẽ tự tạo cho mình một thái độ đúng đắn khi nhìn vào các thẩm quyền khác nhau trong Giáo hội. Những thẩm quyền cần được xác định hầu qua đó, người tín hữu có thể tìm được sự thánh thiện và sự cứu rỗi.
Những ai có quyền đặt ra luật lệ trong Giáo hội?
Đức Thánh Cha: Trong vai trò Đại Diện Chúa Kitô trên trần gian; Người kế vị Thánh Phêrô; Thủ lãnh của Giám mục Đoàn; Chủ Chăn của Giáo hội hoàn vũ, Đức Thánh Cha có quyền đặt ra luật lệ cho toàn thể Giáo hội.
“Nhiệm vụ Thiên Chúa đã trao cách đặc biệt cho Phêrô, người đứng đầu trong các Tông Đồ, phải được chuyển tiếp cho các người kế vị Ngài là Giám mục của Giáo phận Rôma, thủ lãnh của tập đoàn Giám mục, Đại diện Đức Kitô và chủ chăn của toàn thể Giáo hội trên trần gian. Vì thế, do uy lực của nhiệm vụ, Ngài có quyền thông thường tối cao, sung mãn, trực tiếp và phổ quát trong Giáo hội, và Ngài luôn luôn có thể tự do hành sử quyền ấy.” (Ðiều 331)
1. Giám mục Đoàn: Khi hiệp thông và với sự hiện diện của Vị Thủ lãnh (Đức Thánh Cha) Giám mục Đoàn có quyền đặt ra luật lệ cho Giáo hội hoàn vũ, như trong trường hợp của các Công Đồng Chung. Nếu thiếu sự hiệp thông và hiện diện của Vị Thủ Lãnh, Giám mục Đoàn không có quyền đặt ra luật lệ.
“Tập đoàn Giám mục gồm bởi Đức Thánh Cha làm thủ lãnh và các thành phần là các Giám mục đã được cung hiến bằng Bí tích và duy trì sự hiệp thông theo phẩm trật với thủ lãnh và với tất cả các phần tử của tập đoàn. Trong tập đoàn Giám mục, đoàn thể các Tông Đồ được bền bỉ mãi mãi. Tập đoàn Giám mục, hợp nhất với thủ lãnh và không bao giờ được thiếu thủ lãnh, cũng là chủ thể của quyền bính tối cao và sung mãn trong toàn thể Giáo hội.” (Ðiều 336)
2. Công đồng toàn miền: “Công đồng toàn miền, dành cho tất cả các Giáo hội địa phương thuộc cùng một Hội đồng Giám mục, sẽ được nhóm họp mỗi khi chính Hội đồng Giám mục xét thấy cần và hữu ích, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh.
Quy tắc nói trên cũng được áp dụng cho việc nhóm công đồng tỉnh trong một Giáo tỉnh mà ranh giới trùng với lãnh thổ của quốc gia.” (Ðiều 439)
“Công đồng tỉnh, dành cho các Giáo hội địa phương thuộc cùng một Giáo tỉnh sẽ được nhóm họp khi đa số Giám mục Giáo phận trong Giáo tỉnh xét thấy là thuận lợi, đừng kể điều qui định trên.” (Ðiều 439, §2)
“Công đồng Giáo tỉnh sẽ không được triệu tập khi Tòa Tổng Giám mục khuyết vị.” (Ðiều 440)
3. Công Đồng Địa phương: Theo nhu cầu mục vụ với các chủ đích: tăng cường Đức Tin; hoạt động truyền giáo; duy trì và phát triển luân lý; bênh vực giáo huấn của Giáo hội. Các Giám mục trong cùng một miền có thể triệu tập Công Đồng để đặt ra luật lệ, các luật lệ này trước khi ban hành phải được Tòa Thánh duyệt y và chỉ có giá trị trong phạm vi miền đó.
4. Hội Đồng Giám mục: Hội Đồng Giám mục chỉ có thể ra sắc luật trong những trường hợp mà luật chung đã qui định, hoặc một ủy nhiệm đặc biệt của Tòa Thánh đã tự ý ấn định, hoặc theo lời thỉnh cầu của chính Hội Đồng Giám mục ấy. Các sắc luật chỉ có hiệu lực bó buộc khi được ban hành hợp lệ sau khi đã được Tòa Thánh duyệt y.
“Công đồng địa phương phải lo dự liệu mọi nhu cầu mục vụ cho dân Chúa trong lãnh thổ của mình; Công đồng có quyền quản trị, nhất là quyền lập pháp, để có thể, trong khuôn khổ luật phổ quát của Giáo hội, quyết định tất cả những gì thuận lợi cho sự gia tăng Đức Tin, tổ chức hoạt động mục vụ chung và điều hành mọi phong hóa và tuân hành, thiết lập hoặc bảo vệ kỷ luật chung của Giáo hội.” (Ðiều 445)
5. Giám mục Giáo phận: Trong công nghị Giáo phận, Giám mục là nhà lập pháp duy nhất, các thành viên khác chỉ có quyền tư vấn. Duy có Giám mục ký nhận mọi tuyên ngôn và mọi quyết nghị của công nghị, và ban hành chúng với quyền hành của Ngài. (Ðiều 466).
Năng quyền này cũng được hành sử do các vị tương đương với Giám mục Giáo phận: Các Giám Hạt tòng thổ; Các Đan Viện Phụ tòng thổ; Các Đại Diện Tông Tòa; Các Phủ Doãn Tông Tòa; Các Giám Quản Tông Tòa. Các Giám mục Phó và các Giám mục Phụ Tá cộng tác với các Giám mục Giáo phận trong công việc điều hành Giáo phận (xem đ. 403) và thay thế Giám mục Giáo phận khi cản tòa hay trống tòa. Khi thi hành nhiệm vụ trong những hoàn cảnh này, các Ngài có quyền như Giám mục Giáo phận.
“Các Giám mục là những người, do ý định của Thiên Chúa, kế vị các Tông đồ do quyền lực của Chúa Thánh Linh đã ban cho họ, được đặt làm các Chủ chăn trong Giáo hội để làm những thày dạy giáo lý, tư tế phụng tự và tác viên lo việc quản trị.
Các Giám mục, nhờ chính việc thụ phong chức Giám mục, nhận lãnh cùng với nhiệm vụ thánh hóa cả các nhiệm vụ giảng dạy và quản trị nữa. Tuy nhiên, nhiệm vụ giảng dạy và thánh hóa, theo bản tính, chỉ có thể hành sử trong sự hiệp thông phẩm trật với thủ lãnh và với mọi phần tử tập đoàn.” (Ðiều 375)
“Ở trong Giáo phận đã được giao phó, Giám mục Giáo phận có mọi quyền hành thông thường, riêng biệt và trực tiếp cần có để thi hành nhiệm vụ mục vụ của ngài, ngoại trừ những nhiệm vụ mà pháp luật hoặc sắc luật của Đức Thánh Cha đã dành lại cho quyền bính tối cao hoặc một quyền bính nào khác trong Giáo hội.
Tất cả những ai đứng đầu các cộng đoàn giáo hữu khác như đã nói ở điều 368*, đều được luật đồng hóa với Giám mục Giáo phận, trừ những gì đã rõ cách khác theo bản tính sự việc hoặc theo qui tắc luật định.” (Ðiều 381)
* Ðiều 368: Các Giáo hội địa phương, trong đó và từ đó mà một Giáo hội Công giáo duy nhất hiện hữu, ám chỉ trước hết là các Giáo phận các lãnh thổ thuộc Giám Hạt Tòng Thổ và Đan Viện Tòng Thổ, Đại Diện Tông Tòa và Phủ Doãn Tông Tòa và cả Giám Quản Tông Tòa được thiết lập cách thường trực cũng được đồng hóa với các Giáo phận, trừ khi đã rõ cách nào khác.