Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
114, 115. Quyền cai quản
1. QUYỀN CAI QUẢN
“Là đại diện và sứ giả của Chúa Kitô, các Giám mục điều khiển Giáo hội địa phương Chúa đã ủy thác cho bằng lời khuyến cáo, khuyến khích, gương lành và còn bằng uy quyền thánh nữa. Thực vậy, các ngài chỉ dùng quyền bính này để xây dựng đoàn chiên trong chân lý và thánh thiện, khi luôn tâm niệm rằng: kẻ cao trọng nhất hãy nên như kẻ rốt hết, người làm chủ hãy nên như tôi tớ (Lc. 22, 26-27). Quyền bính các ngài đích thân thi hành nhân danh Chúa Kitô là quyền bính riêng biệt, thông thường và trực tiếp. Nhưng sự thi hành còn tùy thuộc vào quyết định tối hậu của uy quyền tối cao nơi Giáo hội, và có thể bị giới hạn phần nào vì lợi ích của Giáo hội hay của các tín hữu. Với quyền bính ấy, các Giám mục có quyền thánh và trước mặt Chúa có nhiệm vụ đặt ra các luật lệ cho những người thuộc quyền, xét xử và qui định tất cả những gì liên hệ tới việc phụng tự và tông đồ.” (Lumen Gentium n. 27, §1)
“Quyền cai trị trong Giáo hội là do thiên định, và cũng được gọi là quyền tài phán. Chủ thể có năng cách của quyền ấy là những người có chức thánh, chiếu theo quy tắc luật định.
§2 Trong việc hành sử quyền ấy, các giáo dân có thể cộng tác theo quy tắc của luật. (Ðiều 129)
2. PHƯƠNG THẾ CAI QUẢN
“Quyền cai trị được phân chia làm lập pháp, hành pháp và tư pháp.
Quyền lập pháp được hành sử theo cách thức do luật qui định. Quyền hành pháp do những người ở dưới quyền bính tối cao nắm giữ thì không thể thừa ủy cách hữu hiệu được, trừ khi luật minh thị dự liệu cách khác. Nhà lập pháp cấp dưới không thể ra cách hữu hiệu một luật trái ngược với luật mà cấp trên đã ra.
Quyền tư pháp, mà các thẩm phán hay tập đoàn nhân sự được hưởng phải được hành sử theo cách thức luật định, và không thể thừa ủy được, trừ ra đối với các hành vi chuẩn bị cho án lệnh hay phán quyết. (Ðiều 135, §1§2§3)
“Ngoài Đức Giáo Hoàng ra, các Hồng Y được hưởng, theo luật, năng quyền Giải tội đối với các tín hữu ở mọi nơi; các Giám mục cũng được hưởng năng quyền như vậy, và được sử dụng năng quyền cách hợp pháp ở mọi nơi, trừ khi Giám mục Giáo phận phản đối trong một trường hợp cụ thể.
Giáo sĩ nào được hưởng năng quyền Giải tội, hoặc do chức vụ, hoặc do Bản quyền sở tại nơi mình nhập tịch hay nơi mình cư trú, ban cấp, thì có thể sử dụng năng quyền ấy ở mọi nơi, trừ khi Bản quyền sở tại ở một nơi nào phản đối trong một trường hợp cụ thể, miễn là tuân hành các qui định của điều 974, triệt 2 và triệt 3.
Giáo sĩ nào được hưởng năng quyền Giải tội do chức vụ hay sự ban cấp của Bề trên có thẩm quyền dựa theo các điều 968 triệt 2 và 969 triệt 2, cũng được quyền Giải tội, theo luật, cho các phần tử và những người khác cư ngụ ngày đêm trong nhà của một dòng tu hay tu đoàn, và họ có thể sử dụng năng quyền ấy cách hợp pháp, trừ khi có Bề trên cao cấp phản đối trong một trường hợp cụ thể đối với những người thuộc cấp của mình.” (Ðiều 967)
“Trong mỗi Giáo phận, Giám mục phải đặt các thẩm phán Giáo phận. Các người này phải là giáo sĩ.
Hội Đồng Giám mục có thể cho phép đặt cả các giáo dân làm thẩm phán. Nếu cần, thì một trong những người ấy có thể được lựa chọn để thành lập tập đoàn thẩm phán.
Các thẩm phán phải có thanh danh và có bằng tiến sĩ hay ít là cử nhân Giáo luật.” (Ðiều 1421)
“Thẩm phán hay chánh án tòa án tập đoàn có thể chỉ định một dự thẩm để thẩm cứu vụ án. Dự thẩm phải được chọn trong số các thẩm phán của tòa án, hay trong số những người đã được Giám mục chuẩn nhận để giữ chức vụ ấy.
Giám mục có thể chuẩn nhận để giữ chức vụ dự thẩm, những giáo sĩ hay giáo dân nào nổi bật về hạnh kiểm, khôn ngoan và học thức.
Bổn phận của dự thẩm chỉ là thu thập các bằng chứng theo như ủy nhiệm thư của thẩm phán, và sau khi thu thập xong, phải chuyển giao cho thẩm phán. Ngoài ra, nếu sự ủy nhiệm của thẩm phán không định ngược lại, dự thẩm cũng có thể tạm thời quyết định những bằng chứng nào phải được thu thập và theo thể thức nào, nếu tình cờ xẩy ra vấn nạn về vấn đề này trong khi thi hành chức vụ của mình.” (Ðiều 1428)
“Sự bổ nhiệm chưởng lý và bảo hệ là việc thuộc quyền của Giám mục. Dù là giáo sĩ hay giáo dân, họ phải là người có tiếng tốt, có bằng tiến sĩ hay cử nhân Giáo luật, khôn ngoan và nhiệt tâm với công lý.” (Ðiều 1435)
“Nếu một đương sự hay một nhân chứng từ chối trình diện để trả lời trước thẩm phán, thì luật cho phép được hỏi cung kể cả nhờ một người giáo dân do thẩm phán chỉ định, hay đòi họ nạp lời khai trước một công chứng viên hay bằng bất cứ phương cách hợp thức nào khác.” (Ðiều 1528)