Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân 116-124. Luật pháp trong Giáo hội
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân 116-124. Luật pháp trong Giáo hội
Document Actions

Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân

116-124. Luật pháp trong Giáo hội

1.            ĐỊNH NGHĨA LUẬT PHÁP

Thánh Tôma Aquina định nghĩa luật như sau: “Luật pháp là những qui định của lý trí nhằm công ích, được ban hành do người điều khiển cộng đồng.” (Quaedam rationis ordiratio ad bonum commune, et ad eo qui curam communitatis habet promulgata). (cf.Summa Theologia IAIIae, 90A.)

Luật lệ không phải là những lời khuyên hay những lời nhắn nhủ, nhưng là những mệnh lệnh xuất phát từ người điều khiển cộng đồng. Tuy nhiên, những mệnh lệnh này phải có tính cách hợp lý với chủ đích duy trì trật tự cho cộng đồng.

Một mệnh lệnh thực sự trở thành một luật lệ khi được người điều khiển cộng đồng ban hành (ban hành là một hành vi nhằm công bố cho mọi người biết đến một sự việc nào đó). Không một mệnh lệnh nào có thể trở thành luật lệ được, nếu mọi người không biết đến qua việc ban hành.

 

2.            PHÂN BIỆT CÁC LOẠI LUẬT PHÁP

Có thể phân biệt từ ngữ như sau:

Giáo luật (Ius Canonicum): là tất cả những luật lệ có tính cách bó buộc trong Giáo hội, dù là luật của Chúa hay của các nhà cầm quyền Giáo hội.

Luật Giáo hội (Lex Ecclesiasticus): là những luật lệ do quyền hành Giáo hội đặt ra. Phạm vi Luật Giáo hội hẹp hơn Giáo luật vì Giáo luật còn bao gồm cả các luật do Thiên Chúa, do các Thánh Tông đồ nữa.

Căn cứ vào nguồn gốc phát sinh, luật có thể được gọi là Thiên luật (nếu luật do Thiên Chúa qui định) hay nhân luật (luật do con người đặt ra).

 

3.            THIÊN LUẬT

Thiên luật có thể là luật thiên nhiên, luật tự nhiên hay luật Thiên Chúa ban hành qua con người.

Luật thiên nhiên là luật phát sinh từ tâm linh của Thiên Chúa, chi phối mọi hành động và sinh hoạt (Summa Theologia, I-II, q. 93, a)

Luật tự nhiên được ban cho con người cùng với những hợp lý như những qui tắc của các hành vi tự do.

Luật Thiên Chúa ban hành qua con người là những luật lệ được mạc khải trực tiếp cho nhân loại. Loại luật này được phân làm hai: Luật Cũ, cũng gọi là Cựu Ước (ban hành qua Moisen và các tiên tri) và luật Mới, cũng gọi là Tân Ước (ban hành cho con người qua Đức Giêsu.)

 

4.            NHÂN LUẬT

Nhân luật được coi phát sinh từ Thiên Chúa khi (1) giải thích những luật lệ do Thiên Chúa mạc khải, khuyến dụ mọi người tuân giữ hầu đạt tới cứu cánh thiện hảo; (2) được thẩm quyền (dù là do Giáo hội hay do dân sự) qui định rõ ràng hơn với những hợp lý tự nhiên đã được mặc khải thể hiện qua sự hài hòa của thụ tạo hay sự hài hòa của ân sủng (Bernard Haring, CSSR. The Law of Christ, Vol I, Phần III, tr. 238)

Qua định nghĩa trên đây, luật được phân làm hai loại: những điều phải làm (luật xác định) và những điều không được phép làm (luật phủ định). Thí dụ như trong Giáo hội có những luật qui định điều phải làm như: “Các tín hữu có bổn phận chu cấp cho các nhu cầu của Giáo hội để Giáo hội có sẵn những gì cần thiết hầu sử dụng trong việc phụng thờ Thiên Chúa, các công tác tông đồ và bác ái và việc trợ cấp xứng đáng cho các thừa tác viên; Các tín hữu cũng có bổn phận cổ võ công bằng xã hội cũng như dùng tài sản riêng tư để giúp đỡ những người nghèo, theo lệnh truyền của Thiên Chúa.” (Ðiều 222); hoặc những điều không được phép làm như: “Không ai được phép làm thiệt hại cách bất hợp pháp đến thanh danh mà mỗi người được hưởng, hoặc vi phạm quyền của mỗi người được bảo vệ bí mật riêng tư của mình.” (Ðiều 220)

Có thể nhìn một cách khác vào các loại luật phải làm và không được phép làm như sau: Luật phải làm (luật xác định) là những luật buộc một cá nhân hễ khi làm thì làm như thế, nhưng không buộc lúc nào cũng phải làm (lex affirmativa obligat semper, sed non pro semper); Luật không được phép làm (luật phủ định) là những luật buộc không bao giờ được làm và không lúc nào được làm  như thế (lex negativa obligat semper et pro semper)

 

 

5.            THIÊN CHÚA LÀ NGUỒN LUẬT PHÁP

Thánh Giacôbê viết: “Chỉ có một Đấng làm ra luật lệ.” (Gia 4,12). Ngài muốn nói về Thiên Chúa. Thiên Chúa là Đấng Tối cao tạo tác mọi quyền hành và luật lệ. Tuân hành luật lệ của Giáo hội hay ngay cả luật dân sự chính đáng là tuân hành Thiên Chúa. Chính Chúa Kitô đã làm gương cho chúng ta về cách thức tuân hành luật lệ: Đức Giêsu đã trả thuế cho Ngài và Phêrô; Ngài đã đến Giêrusalem mỗi năm để chu toàn qui luật phụng vụ; Ngài đã vâng lời Thiên Chúa Cha và đã vâng lời cho đến chết. Ngài biết những yếu đuối trong thân phận con người của các môn đệ. Tuy thế, Ngài đã đặt các ông đứng đầu Giáo hội với năng quyền lập pháp: “Ai nghe các con là nghe Ta.” (Lc 10,16) và: “Như Cha đã sai Ta, Ta cũng sai các con.” (Gioan 20,21)

 

6.            SỰ CẦN THIẾT CỦA NHÂN LUẬT

Tuân giữ các luật lệ do con người ban hành, kể cả luật Giáo hội hay luật dân sự, không phải là tuân giữ cách mù quáng, không ý thức về những khiếm khuyết và giới hạn của con người bất toàn. Phải hiểu rằng nhân luật thiếu sự minh bạch rõ ràng của Thiên luật khi nhìn tới cứu cánh tối hậu của luật lệ là sự toàn thiện. Tuân giữ nhân luật là sự cần thiết của một xã hội lành mạnh. Thiếu nhân luật, xã hội con người sẽ trở thành hỗn độn trong tiến trình phát triển và bảo vệ sự sống cá nhân kể cả trong các lãnh vực trần thế hay lãnh vực thiêng liêng. Không có nhân luật thì sự lạm dụng tự do trước những cám dỗ sẽ tạo nên sự khánh tận của xã hội, sẽ không còn đạo lý và nhân đức nữa. Nhân luật với những biện pháp chế tài xứng hợp là một phương thế con người không thể thiếu trong việc phát triển về xã hội và thiêng liêng tu đức.

 

7.            LUẬT TRONG GIÁO HỘI

Luật lệ không phải là một gánh nặng áp đặt lên con người. Trái lại, luật lệ là thước đo của công lý, là điểm tựa cho những người yếu đuối để nhân loại có thể gìn giữ trật tự hài hòa giữa các thụ tạo theo ý quan phòng của Đấng tạo dựng.

Ngay cả luật Giáo hội cũng chưa phải là toàn bích, tránh được những phê bình hay yêu cầu sửa đổi cách này cách khác, nhưng luật của Giáo hội có được sự an toàn bảo đảm về sự cứu rỗi. Những điều Giáo hội qui định được đóng dấu ấn của sự cứu rỗi. Qua hướng dẫn của luật của Giáo hội người ta nhìn thấy những nguy hiểm và bất công của một số luật dân sự. Luật và thi hành luật là một phần của sự toàn bích luân lý con người.

Không một xã hội nào tồn tại lâu dài nếu không có luật lệ. Giáo hội, thân thể màu nhiệm của Chúa Kitô, cũng không tránh được nguyên lý bất biến này. Giáo hội  sống bằng tình yêu Chúa Kitô, bằng ân sủng của Chúa Thánh Thần và bằng tràn đầy những ơn thiêng liêng cũng như tình yêu của mọi tín hữu, những người tín hữu trung thành gìn giữ luật lệ Giáo hội.

Luật Giáo hội, do đó, nên được coi là phương thế giúp thực hành và chu toàn các công tác mục vụ trong Giáo hội. Một loại luật thể hiện sự yêu thương và phục vụ. Khiêm nhường tuân giữ các luật lệ của Giáo hội nhắc nhở chúng ta biết về thân phận thụ tạo của mình để chúng ta không còn chú tâm vào khía cạnh khiếm khuyết của luật Giáo hội nhưng chúng ta sẽ nhìn thấy những hướng dẫn, trao tặng chúng ta một luồng sinh khí hứng khởi viên mãn. Những khiếm khuyết của con người sẽ làm mạnh mẽ hơn lòng tin Kitô hữu khi chúng ta tin rằng vâng lệnh Chúa Kitô chính là vâng lời những người đại diện Ngài trong Giáo hội trần thế.

 

8.            GIÁO LUẬT

Hai tiếng “Giáo luật” trong Hán -Việt được dùng cách vắn tắt để chỉ Luật của Giáo hội. Đôi khi gọi nôm na là Luật Đạo.

Thoạt tiên, tiếng “Giáo luật” được dùng để đối chiếu với “Dân Luật” hay “Luật Dân sự” hay “Luật Đời”. Một bên là luật của nhà nước (thế quyền) nhằm điều hành các mối tương quan trong quốc gia; một bên là luật của Giáo hội (thần quyền) nhằm điều hành các mối tương quan trong nội bộ Giáo hội.

Tuy nhiên, xét về nguồn gốc, ta thấy không phải tất cả các điều Giáo luật đều phát xuất từ các nhà cầm quyền trong Giáo hội. Thật vậy, trong Bộ Giáo luật, người ta có thể tìm thấy các điều Thiên luật (Luật của Chúa), và Nhân luật (luật của loài người: Giáo hội).

Giáo hội tuy có cơ cấu tổ chức hữu hình trần thế như một xã hội trần gian, nhưng Giáo hội có nguồn gốc và cứu cánh siêu việt.

Giáo hội là một tổ chức gồm bởi loài người (Các Đức Giáo Hoàng, các Giám mục, các Linh mục, Tu sĩ, Giáo dân...) nhưng do Thiên Chúa thiết lập, nhằm đưa con người đến hạnh phúc vĩnh cửu. Khi thiết lập Giáo hội, Chúa Giêsu đã ấn định một số những qui luật nền tảng hầu giúp cho Giáo hội đạt được sứ mạng của mình như Sách Kinh Thánh, các Bí tích, hàng Phẩm trật của Giáo hội. Chúng ta gọi đó là Thiên Luật vì những luật lệ này không do con người đặt ra nhưng do chính Thiên Chúa ấn định qua Chúa Giêsu. Từ nền tảng ấy, Giáo hội đặt ra thêm những qui luật khác, những qui luật này được gọi là Nhân luật, nhằm đến những biện pháp hữu hiệu tùy thời và tùy nơi giúp cho mọi tín hữu đạt được cứu cánh Thiên Chúa đã đề ra cho Giáo hội.

Thiên luật không bao giờ được phép sửa đổi. Nhân luật có thể được sửa đổi tùy theo thời đại và sự khôn ngoan của Giáo hội.

Để duy trì việc tuân hành luật pháp trong một quốc gia, chính quyền sử dụng luật lệ với những biện pháp chế tài như đe dọa, cưỡng bách và trừng phạt; Trái lại, trong Giáo hội, luật pháp đóng vai trò khiêm tốn hơn: Để đạt tới mục tiêu của mình, Giáo hội dùng lời giảng dạy, khuyên bảo, đôi khi van lơn. Ngoài việc lo duy trì trật tự, công bình giữa các phần tử trong cộng đoàn, Giáo hội còn cổ võ yêu thương và bác ái. Luật tối cao của Giáo hội không phải chỉ là công bằng, nhưng là yêu thương.

 

9.            GIẢI THÍCH, CHÚ GIẢI LUẬT LỆ

"Luật được giải thích cách chính thức do nhà lập pháp hoặc do người nào được nhà lập pháp ấy ủy thác quyền giải thích chính thức. Sự giải thích chính thức theo thể thức của một luật thì có uy lực như chính luật và cần được ban hành, nếu nó chỉ tuyên bố lời lẽ của bản luật tự nó đã chắc chắn thì có hiệu lực hồi tố; còn nếu nó thu hẹp hay mở rộng hoặc quyết đoán một điểm hoài nghi, thì không có hiệu lực hồi tố.

Còn sự giải thích theo thể thức của một bản án hoặc một hành vi hành chánh trong một trường hợp riêng biệt thì không có uy lực của luật, nhưng chỉ ràng buộc người nào hay chi phối sự việc nào mà nó nhằm tới.” (Ðiều 16)

"Các luật của Giáo hội cần phải được hiểu theo ý nghĩa riêng của các từ, xét trong văn bản và văn mạch; nếu có chỗ hoài nghi hay tối tăm, thì phải nại đến các chỗ tương tự nếu có, đến mục đích và các hoàn cảnh của luật, và đến ý định của nhà lập pháp.” (Ðiều 17)

"Các luật qui định hình phạt, hoặc hạn chế tự do thi hành quyền lợi, hoặc bao hàm một khoản trừ của luật, thì phải được giải thích một cách chặt chẽ.” (Ðiều 18)

by frjoe — last modified 2007-07-18 04:33

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.