Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
134-142. Các qui tắc luật lệ khác
1. CÁC SẮC LUẬT VÀ HUẤN THỊ.
"Các sắc luật - qua đó nhà lập pháp có thẩm quyền ra những qui định chung cho một cộng đồng có khả năng thụ nhận luật - cũng là luật theo đúng nghĩa và được chi phối bởi những qui tắc của các điều nói về luật.” (Ðiều 29)
"Trong khuôn khổ thẩm quyền của mình, những ai giữ quyền hành pháp có thể ra các huấn thị, nhằm tuyên bố các qui định của luật và quảng diễn cùng xác định các đường lối phải theo để thi hành luật. Các huấn thị ấy được ra cho những người có nhiệm vụ phải thi hành luật và bó buộc họ phải tuân theo khi chấp hành.
Các lệnh truyền của huấn thị không sửa đổi luật. Nếu chúng không phù hợp với các qui định của luật thì sẽ không có giá trị. Các huấn thị hết hiệu lực không những do sự thu hồi minh thị hay mặc nhiên của nhà chức trách có thẩm quyền đã làm ra chúng, hoặc của nhà chức trách có thẩm quyền ở cấp trên, mà còn do sự chấm dứt của luật vì đó mà chúng đã được ban phát để tuyên bố hay truyền chấp hành.” (Ðiều 34)
Sắc luật chung: được ban ra cho toàn thể Giáo hội chính là luật.
Sắc luật chấp hành: không phải là chính luật mà chỉ là để giải thích luật, cho biết cách thức tuân hành và khuyến khích mọi người giữ luật.
Sắc luật riêng: được ban ra cho một số người hay một số trường hợp.
2. CÁC NGHỊ ĐỊNH
"Nghị định là một hành vi hành chánh của cơ quan hành pháp có thẩm quyền, nhờ đó một quyết định hay một biện pháp được đặt ra cho một trường hợp riêng biệt chiếu theo qui tắc luật định. Theo bản chất, quyết định hay biện pháp ấy không giả thiết sự thỉnh cầu của một người nào.” (Ðiều 48)
"Trước khi ra nghị định nhà cầm quyền phải truy tầm các tin tức và chứng cớ cần thiết, và nếu có thể được, hãy nghe những người mà quyền lợi của họ có thể bị thương tổn.” (Ðiều 50)
"Nghị định phải được cấp bằng giấy tờ, nếu đó là một quyết định thì phải trưng bày các lý do, ít là cách sơ lược.”. (Ðiều 51)
"Một nghị định chỉ có giá trị đối với sự việc đã được ấn định và đối với những người được nhằm đến; những người ấy bị nghị định rằng buộc họ bất kỳ họ ở đâu, trừ khi đã rõ cách khác.” (Ðiều 52)
"Nếu các nghị định tương phản nhau, thì khi qui định về trường hợp riêng biệt, nghị định riêng biệt có giá trị hơn nghị định tổng quát; nếu tất cả đều riêng biệt hay tổng quát như nhau, thì trong phạm vi xung khắc, nghị định sau sửa đổi nghị định trước.” (Ðiều 53)
"Một nghị định hết giá trị do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc do sự chấm dứt của luật mà nghị định nhằm chấp hành.”. (Ðiều 58, §1)
“Khi một nghị định ủy thác cho người chấp hành để áp dụng thì nó chỉ có giá trị từ lúc chấp hành; còn các nghị định khác có giá trị từ lúc được thông tri do quyền hành của người cấp phát.
Để có thể thôi thúc việc tuân hành nghị định, cần phải thông tri nghị định ấy bằng một văn kiện hợp lệ theo quy tắc luật định. (Ðiều 54)
“Đừng kể qui định của các điều 37 và 51, khi có lý do trầm trọng ngăn trở việc trao nghị định bằng giấy tờ, thì nghị định coi như đã được thông tri nếu bản văn được đọc cho người mà nghị định nhằm tới, trước mặt lục sự hoặc hai nhân chứng; sau đó làm biên bản với những người có mặt.” (Ðiều 55).
“Nghị định được coi là đã được thông tri nếu người mà nghị định nhằm tới được triệu tới cách hợp lệ để lãnh nhận hay nghe đọc nghị định, nhưng dù không có lý do chính đáng, đã không chịu trình diện hay không chịu. (Ðiều 56).
“Khi luật ấn định phải phát hành một nghị định, hay một người quan thiết đã thỉnh nguyện hợp lệ hay thượng cầu để được một nghị định, thì nhà chức trách có thẩm quyền phải dự liệu trong vòng ba tháng kể từ khi nhận được lời thỉnh nguyện hay thượng cầu, trừ khi luật ấn định một thời hạn khác.
Khi thời hạn ấy trôi qua, nếu nghị định chưa được phát hành, thì được suy đoán là bị khước từ, với những công hiệu để đệ lên thượng cầu khác.
Sự suy đoán khước từ không miễn cho nhà chức trách có thẩm quyền khỏi nghĩa vụ phát hành nghị định, kể cả việc bồi thường tổn hại gây ra, theo như quy tắc của điều 128. (Ðiều 57)
“Một nghị định hết giá trị do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc do sự chấm dứt của luật mà nghị định nhằm chấp hành.
Một mệnh lệnh cá biệt đã không được truyền ra do một văn kiện hợp lệ, sẽ chấm dứt hiệu lực do sự mãn nhiệm của nhà chức trách đã truyền nó. (Ðiều 58)
3. CÁC MỆNH LỆNH.
"Mệnh lệnh là một nghị định, nhờ đó một nghĩa vụ được đặt ra cách trực tiếp và hợp lệ cho một cá nhân hay một số người nhất định, để buộc họ phải làm hay bỏ điều gì, nhất là để thúc bách tuân giữ luật.” (Ðiều 49)
"Một mệnh lệnh cá biệt đã không được truyền ra do một văn kiện hợp lệ, sẽ chấm dứt hiệu lực do sự mãn nhiệm của nhà chức trách đã truyền nó.” (Ðiều 58, §2)
4. CÁC PHÚC NGHỊ
"Phúc nghị là một hành vi hành chánh mà nhà chức trách có thẩm quyền hành pháp cấp phát bằng giấy tờ, và do bản chất, nhằm ban một đặc ân, một miễn chuẩn hay một ân huệ nào khác do lời thỉnh cầu của một người nào đó. Những qui định về phúc nghị cũng có giá trị với việc cho phép một ân huệ bằng miệng, trừ khi nói rõ cách khác.” (Ðiều 59)
"Tất cả những ai không bị luật minh thị ngăn cấm đều có thể xin hết mọi thứ phúc nghị.”. (Ðiều 60)
"Trừ khi nói rõ cách khác, có thể xin phúc nghị cho một người khác, mặc dù người đó không đồng ý; và phúc nghị có hiệu lực trước khi người đó chấp thuận, đừng kể khi có các điều khoản trái ngược.” (Ðiều 61)
"Đừng kể đặc quyền của Tòa Xá Giải dành cho tòa trong, các ân huệ bị khước từ bởi một cơ quan giáo triều Roma không thể được ban phát cách hữu hiệu do một cơ quan nào khác của giáo triều hay một thẩm quyền nào dưới Đức Giáo Hoàng, nếu không có sự đồng ý của cơ quan đầu tiên đã cứu xét.” (Ðiều 64)
"Đừng kể những quy định ở phần a và b dưới đây, không ai được xin một Bản quyền khác một ân huệ đã bị Bản quyền riêng từ chối, nếu không đề cập đến sự từ chối ấy, Bản quyền không được ban cấp ân huệ nếu không được Bản quyền trước cho biết lý do sự từ chối.
a- Một ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám mục từ chối thì không thể ban cấp cách hữu hiệu do một vị đại diện khác cùng Giám mục ấy, cho dù đã nhận biết lý do từ chối của các vị đại diện trước.
b- Một ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám mục từ chối, sau đó xin lại Giám mục Giáo phận mà không đề cập đến sự từ chối, thì dù cho được ban cấp cũng trở nên vô hiệu. Một ân huệ đã bị Giám mục từ chối, sẽ không được ban cấp cách hữu hiệu do vị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám mục, dù có đề cập sự từ chối ấy, nếu không có sự thỏa thuận của Giám mục.” (Ðiều 65)
Không ai bị bó buộc sử dụng một phúc nghị được ban cấp nhằm ích lợi thuần túy cá nhân, trừ khi bị một nghĩa vụ Giáo luật bó buộc vì nguyên cớ nào khác. (Ðiều 71)
5. CÁC ĐẶC ÂN
"Đặc ân là một ân huệ được ban cấp nhằm ích lợi của một vài thể nhân hay pháp nhân do nhà lập pháp hay một cơ quan hành pháp được nhà lập pháp ủy quyền. Căn cứ vào việc sử dụng một đặc ân từ một trăm năm hay đã lâu đời suy đoán rằng đặc ân đã được ban cấp.” (Ðiều 76)
Theo nghĩa rộng đặc ân là một ơn huệ được ban cho một số người hay một nơi hay một vật thể nào đó. Theo nghĩa hẹp, đặc ân là một ân huệ đặc biệt ban cho một số người hay một nơi hay một vật thể nào đó những điều khoản ngoài luật. Khi đặc ân được ban đi ngược lại những qui định của luật pháp thì đặc ân ấy được coi như một miễn chuẩn.
Chỉ những ai có quyền lập pháp mới có thẩm quyền ban đặc ân, nhưng chỉ được ban đặc ân trong phạm vi quyền hạn của mình. Những người có quyền hành pháp chỉ được phép ban đặc ân khi được ủy quyền.
Một cộng đồng từ cả trăm năm có một vài thói quen ngược với những qui định của luật thì những thói quen đó được coi như một đặc ân. Đặc ân được suy đoán là vĩnh viễn, trừ khi có bằng chứng ngược lại;
Đặc ân đối nhân, nghĩa là gắn liền với cá nhân, chấm dứt cùng với người ấy;
Đặc ân đối vật chấm dứt do sự hủy hoại hoàn toàn của sự vật hay địa điểm.
Tuy nhiên một đặc ân dành cho địa điểm sẽ được phục hồi nếu địa điểm được tái thiết trong vòng năm mươi năm.” (Ðiều 78)
Đặc ân sẽ chấm dứt do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền."Không một đặc ân nào chấm dứt do sự khước từ, trừ khi sự khước từ được chấp thuận do nhà chức trách có thẩm quyền. Bất cứ thể nhân nào cũng có thể khước từ một đặc ân chỉ ban nhằm lợi ích thuần túy cá nhân. Các cá nhân không thể khước từ một đặc ân được ban cho một pháp nhân, hoặc vì danh dự của một nơi, hay một vật. Pháp nhân cũng có thể khước từ một đặc ân đã ban, nếu sự khước từ gây thiệt hại cho Giáo hội hay người khác.” (Ðiều 80)
Việc khước từ khác với việc không hưởng dụng đặc ân đã được ban cấp. "Đặc ân không chấm dứt do sự mãn nhiệm của người đã ban cấp, trừ khi được ban với điều khoản “ad beneplacitum nostrum” (theo sở thích của ta) hay một công thức nào tương tự.” (Ðiều 81)
"Đặc ân nào không gây gánh nặng cho người khác thì sẽ không chấm dứt do sự không hưởng dụng hay hưởng dụng trái ngược; nếu gây gánh nặng cho người khác thì sẽ chấm dứt theo thời hiệu hợp lệ.” (Ðiều 82)
"Đặc ân chấm dứt khi đã mãn kỳ hạn hoặc đã hết số trường hợp đã dành. Đặc ân cũng chấm dứt nếu theo sự thẩm định của nhà chức trách có thẩm quyền, hoàn cảnh thời gian đã thay đổi khiến nó trở thành có hại, hoặc khiến sự sử dụng trở nên bất hợp pháp.” (Ðiều 83)
"Người nào lạm dụng quyền hành được ban nhờ đặc ân thì đáng bị truất mất đặc ân ấy. Do đó, sau khi đã cảnh cáo mà không có hiệu quả, Bản quyền đã ban cấp hãy truất đặc ân bị lạm dụng; nếu đặc ân do Tòa Thánh cấp, Bản quyền có nghĩa vụ thông báo cho Tòa Thánh biết.” (Ðiều 84)
6. CÁC MIỄN CHUẨN
"Sự miễn chuẩn, tức là tháo cởi một luật thuần túy thuộc Giáo hội trong một trường hợp cụ thể, có thể ban, trong giới hạn thẩm quyền của mình, do những người giữ quyền hành pháp, hoặc do những người được cấp quyền miễn chuẩn, dù minh thị hay mặc nhiên, hoặc do luật qui định hay do sự ủy nhiệm hợp lệ.” (Ðiều 85)
"Khi xét thấy điều này mang lại lợi ích thiêng liêng cho giáo hữu, Giám mục Giáo phận có thể miễn chuẩn họ khỏi giữ các luật có tính cách kỷ luật, dù phổ quát dù địa phương, do quyền bính tối cao của Giáo hội ban hành cho lãnh thổ hay cho thuộc dân của mình. Tuy nhiên, ngài không được quyền miển chuẩn những luật thuộc về tố tụng, về hình sự, hay những luật mà Tòa Thánh đã dành đặc biệt sự miễn chuẩn cho chính mình hay cho một quyền bính khác. Nếu gặp khó khăn trong việc thượng cầu lên Tòa Thánh và đồng thời có nguy cơ thiệt hại nặng nề do sự trì hoãn, thì bất cứ Bản quyền nào cũng có thể miễn chuẩn những luất ấy, kể cả khi sự miễn chuẩn được dành cho Tòa Thánh, miễn là sự miễn chuẩn vẫn quen được ban trong những hoàn cảnh tương tự và không chạm tới điều 291.” (Ðiều 87)
Kể từ Công Đồng Vaticano II, quyền hạn của các Giám mục đã được nới rộng rất nhiều, Sắc Lệnh Chritus Dominus minh định rằng các Giám mục có quyền miễn chuẩn trong trường hợp đặc biệt cả những luật phổ quát nếu ngài nhận thấy việc miễn chuẩn mang lại lợi ích thiêng liêng cho giáo hữu của mình, chỉ ngoại trừ những điều đã được dành riêng. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tự Sắc De Episcoporum Muneribus đã ban cho các Giám mục quyền miễn chuẩn các luật phổ quát và liệt kê rõ ràng các trường hợp dành riêng cho Tòa Thánh. Trong những trường hợp, hoàn cảnh đặc biệt hơn và nếu phải liên hệ với Tòa Thánh thì sẽ có nguy cơ thiệt hại nặng nề về sự trì hoãn, thì ngay cả những điều được dành riêng cho Tòa Thánh, các Giám mục cũng có quyền miễn chuẩn với lý luận rằng những trường hợp tương tự cũng đã vẫn được Tòa Thánh miễn chuẩn trước đó. Chỉ trừ một trường hợp, đó là luật độc thân Linh mục. (xem đ.291)
"Bản quyền Sở tại có thể miễn chuẩn các luật Giáo phận, và khi xét thấy điều này mang lại thiện ích cho tín hữu, kể cả những luật do Công Đồng Giáo miền, Giáo tỉnh hay do Hội Đồng Giám mục đã đặt ra.” (Ðiều 88)
"Các Cha Sở và các Linh mục khác hoặc Phó tế chỉ được miễn chuẩn các luật phổ quát khi nào đã được minh thị cấp quyền hạn như vậy.” (Ðiều 89)
Các Cha Sở với những lý do hợp lý và nếu có những qui định của Bản quyền địa phương có thể miễn chuẩn từng lần cho từng người về luật giữ ngày Chúa Nhật hay ngày lễ buộc hay luật giữ chay, hoặc có thể hoán chuyển những luật buộc này sang những công việc đạo đức khác. Trong trường hợp nguy tử, về những trường hợp hôn phối (xem đ.1078,2; đ.1079; đ.1080). "Không được miễn chuẩn luật Giáo hội khi không có lý do chính đáng và hợp lý, xét theo hoàn cảnh của trường hợp cũng như tầm quan trọng của luật xin miễn chuẩn; nếu không sự miễn chuẩn sẽ bất hợp pháp và có khi vô hiệu nữa trong trường hợp sự miễn chuẩn không được ban do chính nhà lập pháp hay do cấp trên của cơ quan lập pháp. Khi hoài nghi không rõ có đủ lý do hay không, thì sự ban cấp miễn chuẩn vẫn hữu hiệu và hợp pháp.” (Ðiều 90)
7. CÁC QUI CHẾ.
“Theo đúng nghĩa, các qui chế là những quyết nghị được đặt ra chiếu theo luật, nhằm ấn định mục đích, cách cấu tạo, sự quản trị và đường lối hành động của các tập hợp nhân sự hay sự vật.
Các quy chế dành cho một tập hợp nhân sự chỉ bó buộc những thành viên hợp lệ của tập thể ấy; các quy chế dành cho một tập hợp sự vật bó buộc những người điều khiển nó.
Các qui định của quy chế được thành lập và ban hành do quyền hành lập pháp thì được chi phối bởi các quy tắc của những điều đã nói về luật.” (Ðiều 94)
8. CÁC ĐIỀU LỆ
“Điều lệ là những quy tắc phải tuân giữ trong các buổi họp do giáo quyền triệu tập hay do tín hữu tự động qui tụ, và trong các lễ hội khác. Điều lệ xác định sự cấu tạo, quản trị và chương trình nghị sự. Trong các buổi họp và lễ hội, các quy tắc của điều lệ bó buộc những người tham dự chúng.”. (Ðiều 95)
Các pháp nhân trong Giáo hội có thể là tập hợp nhân sự hay tập hợp sự vật. (Ðiều 115, §1)
9. CÁC SẮC LUẬT VÀ HUẤN THỊ HÁNH CHÁNH
“Trong giới hạn thẩm quyền của mình, ai giữ quyền hành pháp có thể ra các sắc luật chấp hành, nghĩa là các sắc luật xác định rành mạch hơn những cách thức áp dụng luật hoặc thúc bách việc tuân giữ luật.
Những qui định ở điều 8 cũng phải được áp dụng đối với việc ban hành và hưu lực của các sắc luật nói trên.” (Ðiều 31)
“Trong khuôn khổ thẩm quyền của mình, những ai giữ quyền hành pháp có thể ra các huấn thị, nhằm tuyên bố các qui định của luật và quảng diễn cùng xác định các đường lối phải theo để thi hành luật. Các huấn thị ấy được ra cho những người có nhiệm vụ phải thi hành luật và bó buộc họ phải tuân theo khi chấp hành.” (Ðiều 34. §1)