Hướng Dẫn Giáo Luật - Dành Cho Giáo Dân
415 - 417. Quyền và luật về hôn phối
1. QUYỀN KẾT HÔN
“Mọi người không bị luật cấm đều có thể kết hôn.” (Ðiều 1058).
Kết hôn là quyền tự nhiên của một con người. Tuy nhiên, luật pháp có thể cản trở một số người nào đó trong việc kết hôn. Những cản trở này có thể có là vì lợi ích của chính con người, người ta có thể phân biệt những cản trở này như sau:
- Bởi luật tự nhiên: như trong trường hợp một người bất lực hoàn toàn và vĩnh viễn.(xem đ.1084)
- Bởi Thiên luật: như trong trường hợp những người đã lãnh nhận chức thánh hay đã khấn trọn đời trong các nhà Dòng. (xem đ.1087; đ.1088)
- Bởi nhân luật: như trong trường hợp hai người định kết hôn với nhau có liên hệ họ hàng gần nhau. (xem đ.1091; đ.1092; đ.1093; đ.1094)
Những cản trở này được luật gọi là "Những ngăn trở Hôn phối", những ngăn trở hôn phối làm cho việc cử hành hôn phối không hữu hiệu và không có giá trị.
2. LUẬT HÔN PHỐI
“Hôn phối của những người Công giáo, cho dù chỉ có một bên là Công giáo thôi cũng vậy, bị chi phối không những bởi luật Thiên Chúa, mà còn bởi luật của Giáo hội nữa, tuy vẫn tôn trọng thẩm quyền của luật dân sự về những hiệu quả thuần túy dân sự của hôn nhân.” (Ðiều 1059).
Hôn phối giữa những người Công giáo được cử hành theo nghi thức luật định (Nghi thức Hôn Phối), không những có hiệu quả về Bí tích và tôn giáo mà cũng còn có hiệu quả xét theo luật tự nhiên và luật dân sự nữa.
Ta có thể kể những yếu tố chi phối hôn nhân Công giáo như sau:
- Hôn nhân Công giáo chi phối bởi Thiên luật;
- Hôn nhân Công giáo chi phối bởi luật Giáo hội. (Giáo hội được Thiên Chúa thiết lập, có thẩm quyền ban hành những luật lệ qui định về tính cách thành sự của hôn nhân hướng về những yếu tố bất khả phân ly của hôn phối);
- Các chính phủ có thể ban hành các luật lệ dân sự về hôn phối.
Hôn nhân của những người ngoại giáo bị chi phối hoàn toàn bởi luật dân sự, không đi ngược lại với Thiên luật, nhân luật và luật tự nhiên. Qua những nguyên tắc này, các chính phủ dân dự có thẩm quyền tương đương với thẩm quyền của Giáo hội, trong việc ấn định và ban hành những luật lệ về hôn nhân và gia đình. Tuy nhiên, các chính phủ dân sự không được trao ban thẩm quyền để hủy bỏ (dissolvere) một giao ước hôn nhân.
3. LUẬT PHÁP BẢO VỆ HÔN PHỐI
“Hôn phối được hưởng sự che chở của luật pháp. Bởi đó, trong trường hợp hoài nghi, sự thành sự của hôn nhân được công nhận cho đến khi chứng minh ngược lại được.” (Ðiều 1060).
Đây là nguyên tắc Giáo luật bảo toàn hôn nhân, Giáo hội luôn nhìn nhận rằng một cuộc hôn nhân được cử hành với những yếu tố đã định (dù chỉ là bề ngoài), vẫn thành sự và có hiệu quả (thành hiệu), dù có thể có những ngăn trở kín ảnh hưởng tới sự thành hiệu của nó. Nguyên tắc này cũng được áp dụng cho cả những hôn phối của người ngoại đạo.
Như thế, khi nào một cuộc hôn nhân bắt đầu xuất hiện những vấn đề gieo nghi ngờ về sự thành hiệu của nó, thì Giáo hội vẫn nhìn nhận nó thành hiệu, cho đến khi có đủ những yếu tố rõ ràng chứng minh rằng cuộc hôn nhân đó không thành hiệu.
Vì vậy, khi hai người liên hệ trong một cuộc hôn nhân đang có những nghi ngờ không thành hiệu của chính hôn nhân ấy, không được phép kết hôn lần thứ hai, cho đến khi nào chứng minh được rõ ràng và được thẩm quyền Giáo hội nhìn nhận là lần hôn nhân trước đó không thành hiệu.