Mảnh Xương Khô Trong SaMạc
3. Những điều tốt nhất tiền có thể mua được
Bác sĩ Lert Srichandra.
Bác sĩ Lert Srichandra, sinh tại Bangkok, là một Phật tử người Thái Lan. Năm 21 tuổi, ông nhập tu tại một ngôi Chùa và trở thành một nhà sư trong ba tháng suốt Mùa Chay tịnh theo Phật Giáo.
Sau đó ông đến Hồng Kông theo học tại Học Viện Wan Yan trong ba năm, dưới sự hướng dẫn của Linh mục Daniel Donnelly, Dòng Tên. Ông đã Rửa tội theo Đạo Công Giáo tại Nhà thờ Chính Toà Hồng Kông, lấy tên Thánh là Sebastiano Conrad.
Sang Ái Nhĩ Lan (Ireland), nhập Viện Đại Học Quốc gia Ái Nhĩ Lan, Dublin. ông tốt nghiệp Bác Sĩ Y Khoa. Đồng thời ông cũng theo học Phân Khoa Thần học tại Viện Đại Học này và tốt nghiệp với cấp bằng danh dự.
Năm 1942, trước khi trở về quê hương, ông đã kết hôn tại Nguyện đường của Viện Đại Học này, vợ ông là Jean Hu Wasson, con gái của ông bà Mục sư Wasson, (thuộc Giáo Hội Presbyterian) trước ngày cưới, cô Jean Hu Wasson đã Rửa tội theo Đạo Công giáo.
Với sự đồng ý của Đức Cha Louis Chorin, Giám mục Địa Phận Bangkok, ông đã thành lập Hội Ái Hữu Công Giáo và làm Chủ tịch trong bốn nhiệm kỳ liên tiếp. Ông cũng là Sáng lập viên Bệnh Viện Thánh Giuse và Trung Tâm Công Giáo tại Bangkok.
Tự truyện sau đây được Bác Sĩ Lert Srichandra viết với lời đề tựa như sau:
Bài viết này xin gửi đến:
Những ai gieo hạt giống bên lề đường,
Những ai gieo hạt giống trong bụi gai,
Những ai gieo hạt giống trong vùng đá sỏi,
Và những ai gieo hạt giống trong vùng đất tốt.
Mỗi người, dù biết hay không biết, bằng những cách thế riêng của mình đã giúp tôi từng bước một trong hành trình khám phá ra Đấng Sáng Tạo.
Xin Thiên Chúa chúc lành cho tất cả.
*********************
Có một điều dễ nhất ai cũng có thể làm được đó là trở thành một Phật tử. Người ta không phải ký một giấy tờ gì, cũng không phải tuyên bố gì. Chẳng có một nghi thức nào để thâu nhận, cũng chẳng cần ai lên tiếng chấp thuận. Nếu muốn trở thành một Phật tử, người ta chỉ muốn thế thôi, là thành Phật tử.
Đức Phật không phải là Thiên Chúa. Ngài đã tuyên bố rằng Ngài không phải là Thiên Chúa và Ngài cũng không tin có Thiên Chúa. Đức Phật không ban bố một giới răn nào. Ngài chỉ cho những lời khuyên. Đối với Ngài, ai theo hay không theo không quan trọng. Người ta chỉ có thể cứu được chính mình thôi, không cứu được người khác. Đức Phật không cứu rỗi ai. Chính Ngài đã đạt được cõi Niết Bàn, cả hồn và xác Ngài thoát tục.
Đức Phật qui tóm các điều giáo huấn của Ngài cho các Phật tử bình thường vào năm luật lệ đơn giản. Chỉ có năm luật lệ đơn giản ấy, ai muốn theo hay không tùy ý:
1. Không được sát sinh.
2. Không được ăn cắp.
3. Không được ngoại tình.
4. Không được nói dối.
5. Không được uống rượu.
Khi một Phật tử quyết định theo Đạo Công giáo, họ không bị bắt buộc từ bỏ những luật lệ này. Họ vẫn bị buộc không được giết người. Tuy nhiên, họ được phép diệt trừ các loại sinh vật nguy hiểm để tự vệ về sức khỏe và đời sống cho chính họ và cho người khác, ngay cả vì tự vệ, đôi khi đưa đến sự chết của những kẻ thù. Tiêu diệt sự sống một cách vô lý vẫn không được chấp nhận. Dù với Phật tử hay người Công giáo, ăn cắp vẫn là tội, ngoại tình và tham lam ăn uống quá độ cũng là tội. Khi theo đạo Công giáo, người Phật tử không bị bắt buộc từ bỏ Đức Phật. Đức Phật không bao giờ cho mình là Thiên Chúa, điều đó là sự thật.
Chúng ta không phán đoán được ý định của Thiên Chúa. Đừng hỏi tại sao Thiên Chúa lại dựng nên các Phật tử hay những người theo tôn giáo khác. Điều này hoàn toàn theo ý riêng của Ngài. Có thể nói thế này: Lời Chúa, nghe được trong một dịp nào đó dù với ý thức hay không, chính là hạt giống được gieo xuống tâm hồn tạo nên một bước tiến, tiến đến gần Thiên Chúa hơn.
Nhìn một hành vi Bác ái do một người nào đó thực hiện, có thể là một bước khác.
Trong trường hợp nào đó, một giọt nước mắt có thể có tác dụng đánh động tâm hồn, giúp người ta hướng về Thiên Chúa hơn cả một bộ sách giảng về đạo.
..."Không ai thắp đèn rồi lấy một cái vò đậy lại, hay đặt dưới gầm giường, nhưng người ta sẽ đặt lên giá đèn để cho mọi người thấy được ánh sáng." (Luca 8,16).
I
"Những hạt rơi bên vệ đường"
"Hạt giống là Lời Chúa, những hạt rơi bên vệ đường là những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng rồi quỉ ma đến lấy đem đi khỏi tâm hồn họ, để họ khỏi tin và được cứu rỗi." (Luca 8, 11 - 12)
Trong những ngày đầu của một niên học mới, các học sinh nội trú trở về trường gặp gỡ nhau, thật là thích thú khi họ kể cho nhau nghe về những ngày nghỉ hè với những thú vui bất tận. Họ bàn tán với nhau về một vài khuôn mặt mới, những thầy giáo, cô giáo mới, những người bạn mới. Ngay cả những đổi thay của một vài cây bách cây tùng trong sân trường cũng được chiếu cố cẩn thận và là đề tài cho họ bàn luận.
Học sinh nội trú của trường là thế đó, họ sống chung với nhau nhiều năm và đã chia sẻ với nhau một phần đời thơ ấu của họ.
Đối với tôi, một cậu bé mười hai tuổi, con nhà nghèo, học nội trú là một việc xa xỉ, gia đình không đài thọ nổi. Vì thế, trong niên học này cũng như những năm vừa qua, mỗi ngày sau giờ học, tôi phải làm việc tại trường. Công việc của tôi là mỗi ngày sau buổi học, tôi phải quét dọn sân trường, nhặt vỏ chuối và rác rưới chung quanh các phòng lớp, quét và lau sàn các phòng học. Với công việc này, tôi được trả thù lao và số thù lao này trừ vào tiền học phí. Mẹ tôi chỉ phải đóng một nửa tiền học cho tôi so với các học sinh nội trú khác của trường phải đóng gấp đôi. Tôi rất hãnh diện về việc làm này. Nhất là năm nay tôi đã 12 tuổi, ý thức trách nhiệm nhiều hơn. Ngoài công việc nhặt các vỏ chuối, thu sạch sân trường, tôi còn phải lau sạch sàn của hai phòng học lớn và rửa chén bát sau mỗi bữa cơm. Nguyên những công việc này thôi đã chiếm hết trí óc non nớt của tôi vào thời gian khởi đầu niên học.
Ở vào lứa tuổi 12, vấn đề giàu nghèo không làm tôi bận tâm lắm, mặc dù tôi đã nhận xét được rằng, khi mình ăn một cây cà-rem khác với khi mình nhìn người khác ăn cà-rem trong khi mình thèm thuồng. Thật ra tôi không nhớ nhiều lắm về thời điểm lúc tôi lên 12 tuổi.
Những gì còn sót lại trong trí óc của tôi bây giờ, đó là, lúc ấy tôi là đứa con duy nhất trong gia đình tôi. Cha tôi là một y sĩ trong Quân Đội Hoàng Gia Thái Lan. Năm tôi lên ba tuổi, cha tôi và một số sĩ quan trẻ bị kết án chung thân và bị giam giữ từ ngày đó, lý do là vì họ đã phê bình lề lối tổ chức quân đội theo thể chế quân chủ hiện hành của quốc gia. Với một tinh thần hăng say của tuổi trẻ, họ muốn tổ chức quân đội theo thể chế dân chủ mới mẻ của thế giới. Nhưng Hoàng gia đã coi đó là một lỗi lầm khinh quân. Kết quả là họ đã bị bắt giữ và kết án.
Tôi cũng còn nhớ sau khi cha tôi bị bắt giữ, mẹ tôi và tôi không còn nhà cửa gì cả. Mẹ tôi phải đi làm trong các gia đình trung lưu như một người giúp việc vặt. Lương bổng của bà là các bữa ăn, một chỗ ngủ và một số tiền nhỏ tượng trưng. Với số tiền nhỏ này, mẹ tôi dành dụm để trả một nửa học phí cho tôi tại trường học nội trú do Giáo hội Tin Lành điều hành.
Tôi chăm học và học tương đối khá. Năm lên 12 tuổi, tôi đã học năm thứ ba của chương trình tiểu học vào thời ấy. Nhà trường có lớp học về Kinh Thánh, tôi cũng ghi tên theo học lớp Kinh Thánh này. Các câu chuyện trong Cựu Ước quyến rũ tôi thật nhiều. Qua Tân Ước, Chúa Giêsu và cả Thánh Phaolô nữa, đối với tôi là những anh hùng. Kết quả của những giờ học Kinh Thánh đưa tôi đến việc quyết định: Tôi muốn gia nhập Đạo Tin Lành.
Trước ngày tựu trường năm lên 12 tuổi, tôi đã bỏ ra cả một buổi tối để kể cho mẹ tôi nghe về Chúa Giêsu. Sau khi chấm dứt, mẹ tôi hỏi:
- Lert à! Qua câu chuyện con vừa kể, Chúa Giêsu phải là một bậc vĩ nhân, nhưng sao con lại kể với mẹ về Chúa Giêsu?
Tôi đáp:
- Mẹ à! Con muốn rửa tội theo đạo Tin Lành, mẹ có cho phép con không?
Mẹ tôi âu yếm xoa đầu tôi:
- Ồ, mẹ cho phép con chứ! Sống theo lời Chúa dạy, con sẽ trở nên một người tốt, mà mẹ luôn luôn muốn con trỡ thành một người tốt.
Từ buổi hôm đó, một niềm hân hoan mới xâm chiếm tâm hồn tôi, theo tôi vào trường trong ngày nhập học.
Thày giáo dạy môn Kinh Thánh tuyên bố: "Những ai năm ngoái đã theo học lớp Kinh Thánh, nếu muốn có thể được rửa tội trước kỳ tam cá nguyệt chấm dứt.". Khi nghe điều này, tôi vui mừng khôn xiết, vì nghĩ đến việc tôi sẽ được rửa tội. Thế là chẳng bao lâu nữa, khi đi dự lễ vào mỗi sáng Chúa Nhật, tôi sẽ được nhận tấm bánh nhỏ xinh xinh và sau đó tôi sẽ gục đầu xuống nơi tấm gỗ làm bàn quì trước mặt cầu nguyện. Tôi ao ước ghê gớm sẽ được nhận tấm bánh ấy, tấm bánh vẫn được đặt gọn gàng trên dĩa vàng chói sáng và trao cho những người ngồi ở dãy bàn gần với bàn thờ, từ trước đến giờ tôi luôn luôn được chỉ rằng phải ngồi ỏ những dãy bàn xa xa.
Một điều đáng buồn là trong kỳ tam cá nguyệt này, tôi không còn có thì giờ để tham dự lớp Kinh Thánh nữa, vì lớp học vào buổi chiều mà buổi chiều tôi lại bận rộn quá. Nào là phải nhặt nhạnh các vỏ chuối, rác rưới trong sân trường, nào là phải xếp các ghế ngồi lên bàn trước khi lau sàn của phòng học, rồi sau đó lại xếp ghế xuống. Làm xong những công việc này là đến giờ cơm.
Bao nhiêu bận rộn như thế cho nên tin nhà trường tăng học phí không làm tôi lưu ý lắm. Theo lý luận non nớt của tôi, dù nhà trường có tăng học phíp đi nữa, tôi cũng không lo, vì tôi làm việc để trừ vào học phí tôi phải trả. Có lo chăng là lo cho những học sinh nào phải trả cả tiền học phí trong năm thôi.
Cuối cùng, ngày rửa tội đã được ấn định trước cũng đã tới. Buổi sáng Chúa Nhật trong nhà thờ, tất cả học sinh sẽ được rửa tội đã được dặn trước là phải ăn mặc chỉnh tề: mặc bộ quần áo nào mới nhất, chân phải đi giày vớ cẩn thận. Tôi không gặp khó khăn về vấn đề quần áo. Tôi chỉ có một bộ duy nhất, rất sạch sẽ vì tôi giặt gần như thường xuyên bất cứ khi nào tôi nhặt được một mẩu xà bông vứt đi từ những học sinh con nhà giàu. Vấn đề vớ tôi gặp trở ngại, vì đôi vớ của tôi đã quá cũ, hơn nữa, một chiếc vừa bị con chó của trường nhai nát chiều hôm trước khi tôi phơi sau khi giặt, nhưng không sao, tôi có thể mượn tạm một đôi vớ khác của một anh bạn học.
Vào ngày Chúa Nhật, tôi đã sẵn sàng, quần áo sạch sẽ vì mới giặt, đôi vớ lành lặn mới mượn, đôi giày vừa được đánh bóng. Chúng tôi tiến vào nhà thờ, có chỗ ngồi dành riêng. Rồi việc gì phải đến đã đến: Tôi và các bạn sẽ được rửa tội xếp hàng đi lên bàn thờ bằng lối đi giữa nhà thờ. Chúng tôi xếp một hàng ngang trước bàn thờ. Tôi thật sự xúc động và sẵn sàng cho buổi lễ.
Trong khi chúng tôi đứng như thế, một thầy giáo đến để kiểm soát tên tuổi của từng người. Khi thầy đến chỗ tôi, tôi linh cảm hình như có việc chẳng lành. Ông nhìn tôi một lúc rồi tất tả quay đi. Một vài phút sau ông trở lại, kéo tôi ra ngoài hàng và bảo tôi trở về chỗ ngồi. Tôi nhìn ông, lắc đầu và nói: "Thưa thầy, con đã theo học lớp Kinh Thánh suốt năm ngoái và bây giờ con muốn được rửa tội.".
Thầy dứt khoát: "Trở về chỗ."
Tôi còn biết chuyện gì đã xảy ra sau đó. Gục đầu xuống tấm gỗ làm bàn quì trước mặt, nhưng không phải để cầu nguyện, mà để dấu hai hàng nước mắt đang ứa ra. Họ không cho phép tôi rửa tội. Họ muốn giữ tấm bánh nhỏ cho một mình họ thôi.
Không ai nói cho tôi biết lý do tại sao tôi không được rửa tội, nhưng vài tuần lễ sau đó, vào một buổi sáng thứ bảy, khi tôi đang bận rộn với việc nhặt rác chung quanh trường, tôi được gọi lên Văn Phòng Thầy Hiệu Trưởng. Tôi nhận thấy bầu không khí thật căng thẳng ngay sau khi bước qua ngưỡng cửa, nhưng khi nhìn thấy mẹ tôi đang ngồi trong chiếc ghế đối diện, tôi lấy lại được bình tĩnh ngay. Dù trước mặt thầy Hiệu Trưởng, nhưng tôi đến ngay với mẹ tôi và liếc xem mẹ tôi có đem quà cho tôi như những lần đến thăm khác không. Mắt tôi sáng lên khi nhìn thấy một nải chuối ngay bên cạnh chân mẹ.
Mẹ tôi nắm chặt lấy tay tôi với một cử chỉ khác thường. Một cử chỉ mà tôi nhớ đã có lần xảy ra.
Mẹ tôi nói: "Lert à! Con phải thôi học!"
Tôi ngạc nhiên: "Không được đâu mẹ, vì kỳ tam cá nguyệt này còn tới một tháng nữa mới hết."
Mẹ tôi ngập ngừng: "Mẹ đến trả tiền học cho con, nhưng mẹ không có đủ tiền."
Tôi không thể hiểu được chuyện gì đã xảy ra. Chắc chắn nhà trường biết rằng tôi làm việc để trừ vào tiền học phí của tôi, ít nhất là một nửa. Mẹ tôi đến đây là để trả tiền một nửa còn lại chứ ngoài ra không còn có lý do gì khác.Có lẽ việc này liên hệ đến việc tăng học phí mới đây. Tôi hỏi mẹ tôi điều đó có quan trọng lắm không, mẹ tôi gật đầu.
- Lert à, mẹ đã đi bộ suốt quãng đường năm cây số chứ không đi xe, vì mẹ muốn dành tiền để mua nải chuối này cho con, mẹ mới lãnh lương một tháng, nhưng không đủ tiền trả tiền học phí cho con.
Tôi ngạc nhiên: "Mẹ ơi sao lại không đủ?"
Mẹ tôi giải thích: "Học phí trong tháng vừa qua mới tăng lên gấp đôi và thầy Hiệu Trưởng vừa cho mẹ biết rằng từ nay con sẽ phải trả cả học phí chứ không phải trả một nửa như từ trước đến nay nữa."
Thầy HIệu Trưởng im lặng từ đầu bây giờ mới lên tiếng: "Đúng đó Lert à! Nhà trường không đủ tiền đài thọ cho những học trò nghèo nữa."
Tôi cố gắng giải thích: "Thưa Thày, con làm việc tại trường để trả học phí, con quét các lớp học và con còn rửa chén bát sau mỗi bữa ăn..."
Ngừng lại nửa chừng vì ý nghĩ phải thôi học tự nhiên xuất hiện mạnh mẽ trong óc tôi. Mẹ tôi nức lên khóc, hai hàng nước mắt chảy xuống hai bên má. Mẹ kéo tôi lại gần, nâng đầu tôi lên nhìn mẹ, ô hay, sao mặt mẹ tôi khác thế, cũng khuôn mặt đó, nhưng có những nét khác biệt tôi chưa tùng nhìn thấy bao giờ. Mẹ tôi nhìn thẳng vào mắt tôi, tia nhìn của mẹ làm tôi nín khóc.
Mẹ tôi nói: "Con à! Mẹ con mình nghèo, nhưng mẹ con mình nhất định không phải là những người ăn xin, mẹ con mình không van xin lòng bác ái. Lòng bác ái là tự cho đi không phải là xin xỏ. Đi con, đừng phí nước mắt, nước mắt để dành cho tình yêu, không phải để xin tiền. Mẹ con mình đi. Mẹ hứa với con rằng, cho đến bao giờ mẹ còn sống, con sẽ phải có được một sự giáo dục hạng nhất mà tiền có thể mua được.
Tôi trở về phòng, nhặt nhạnh những thứ thuộc về mình. Hình như cả trường đều biết việc đã xảy ra cho tôi: Tôi chỉ là một đứa bé nghèo khổ, bị đuổi học vì không có đủ tiền để trả tiền trường, chẳng có gì là cảm động, cũng chẳng cần hỏi han an ủi gì. Khi tôi đi, các học sinh đang làm việc tại vườn trồng nho của nhà trường. Tôi cũng chẳng có ai thân đủ để chào giã biệt... tôi chỉ hơi buồn, vì tôi chưa nhặt hết rác rưới còn rải rác trong sân trường. Từ nay, nhà trường sẽ phải thuê một người khác làm công việc này thay tôi và chắc chắn lương của người này sẽ rẻ hơn lương trả cho tôi vì nếu phải trả lương bằng trả lương cho tôi, chắc họ đã không đuổi tôi.
Sau khi rời trường, mẹ con tôi đi dọc theo đường phố. Tôi tự hỏi không biết mẹ sẽ đưa tôi đi đâu, vì tôi biết rằng mẹ con tôi chẳng có nhà cửa gì cả. Trong những thời gian nghỉ hè, mẹ tôi thường gửi tôi đến nhà một người bà con xa, có thể là một gia đình sống bằng nghề đánh cá, có thể là một gia đình sống ở vùng quê. Khi hỏi, mẹ tôi bảo rằngmẹ sẽ gửi tôi ớ nhà một người dì đang sống tại quận lỵ.
Trời buổi trưa oi bức và con đường trước mặt như càng dài ra mãi. Nhưng tôi sung sướng vì được đi bên cạnh mẹ tôi. Thường cứ vài ba tháng tôi mới được gặp mẹ một lần khi mẹ đến thăm tôi tại trường. Từ nay tôi sẽ được ở bên mẹ, nói chuyện nhiều với mẹ và có thể giúp mẹ vài công việc khi mẹ làm việc tại các gia đình. Trước kia, đôi khi tôi cũng giúp mẹ như thế và sau mỗi lần giúp mẹ, tôi lại được thưởng kẹo bánh. Mẹ tôi rất nghiêm khắc trong việc này. Mẹ cấm tôi không được nhận tiền của ai trừ khi tôi đã làm một việc gì giúp họ. Nhưng người ta sẽ không trả lương cho tôi khi tôi giúp mẹ vì họ đã trả lương cho mẹ rồi.
Vừa đi vừa nói chuyện với mẹ, tôi chợt nhớ việc đã xảy ra cho tôi hôm lễ rửa tội. Chắc là có một liên hệ nào đó giữa việc tăng học phí và việc tôi rửa tội. Có lẽ thầy Hiệu Trưởng đã biết trước việc tôi bị đuổi học. Hay là một đứa bé nghèo không trở thành người Kitô giáo được? Tôi không hiểu, vì vấn đề quá lớn đối với tôi, nhưng chắc chắn mẹ tôi biết, mẹ tôi giỏi lắm.
Tôi hỏi mẹ khi mẹ con tôi đến trú dưới bóng mát của một cây cổ thụ bên vệ đường. Mẹ con tôi dừng lại, tôi mừng vì được nghỉ chân đưới bóng cây mát rượi. Mẹ tôi im lặng sau câu hỏi như là để chọn lựa câu trả lời cho tôi. Cuối cùng mẹ nói:
- Lert à! Con đã kể với mẹ rằng Chúa Giêsu nghèo, cha mẹ của Chúa cũng nghèo, mẹ không hiểu tại sao con lại không được rửa tội.
Tôi thưa mẹ:
- Thật đó mẹ à! Họ không cho con rửa tội và cũng không giải thích tại sao!
Mẹ tôi lại im lặng, mẹ bẻ một trái chuối, bóc vỏ, đưa cho tôi, rồi bẻ cho mẹ một trái, mẹ làm như là mẹ đã quên câu chuyện vừa nói. Tôi ăn trái chuối ngon lành vì đang đói và cũng quên luôn câu chuyện. Mẹ tôi chợt lên tiếng:
- Con đã kể cho mẹ nghe câu chuyện về Chúa Giêsu. Có một câu nói mẹ quên rằng ai đã nói, đó là: Phúc cho những ai đói khát điều công chính, vì họ sẽ được no thỏa. Lert à! Nếu con muốn được no thỏa sự công chính, con phải luôn luôn liêm khiết, và nếu con luôn luôn liêm khiết, con sẽ được no thỏa. Nếu con muốn trở thành người Kitô hữu, và nếu con muốn có tấm bánh nhỏ, con phải luôn luôn liêm khiết và thật thà ... rồi con sẽ không còn bị từ chối nữa.
Tôi đã ăn xong trái chuối, mẹ tôi cũng đã bóc vỏ trái chuối của mẹ và quăng vỏ chuối vào gốc cây. Theo thói quen, tôi cúi nhặt và gom lại cầm trong tay. Mẹ nhìn tôi và mẹ chợt bật tiếng cười, tôi nhận ra tại sao mẹ cười, tôi cũng cười theo, hai mẹ con cùng cười vui vẻ dưới bóng cây râm mát bên đường.
Giờ đây, bốn mươi năm sau buổi trưa nóng bức dưới bóng cây râm mát đó, tôi hiểu ý nghĩa của đoạn Phúc âm Thánh Luca:
" Hạt giống là Lời Chúa, những hạt rơi bên vệ đường chính là những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng rồi ma quỉ đến lấy đi." (Lc 8, 11-12)
II
"... và có những hạt rơi vào bụi gai..."
" ...và những hạt rơi vào bụi gai là những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng trong lòng có nhiều lo lắng, ham mê giàu sang khoái lạc, nên Lời Chúa bị nghẹt không sinh hoa kết trái được." (Lc 8,14)
Trong suốt một năm sau đó, tôi di chuyển từ nơi này sang nơi kia, từ bà cô này tới ông chú khác. Dường như tôi có nhiều bà cô, ông chú đến nỗi tôi không nhớ nổi tôi đã ở với những ai. Nhưng tất cả đều có lòng tốt cưu mang tôi, dù trong nhiều trường hợp chỉ là một thời gian ngắn vì họ cũng nghèo và vì có thêm một miệng ăn nữa trong gia đình là có thêm một gánh nặng nữa cho họ. Dĩ nhiên tôi cũng có một vài người bà con khá giả, nhưng mẹ tôi cương quyết sống đúng câu châm ngôn: "Lòng bác ái là tự cho đi chứ không phải xin xỏ.". Không ai tự cho chúng tôi hết và dĩ nhiên, chúng tôi cũng đã không xin xỏ ai cả.
Một đứa trẻ du thủ du thực như tôi không cảm thấy bị ràng buộc gì, hay có mà tôi không còn nhớ. Dù khi tôi ở nhà bà cô này hay khi ở nhà ông chú khác, dù tôi theo học trường học này hay theo học trường học kia hay không học hành gì cả, tôi vẫn cảm thấy đời sống thật vui vẻ. Rồi tôi vẫn học xong chương trình học năm đó dù phải học ở bốn trường học khác nhau trong thời gian mười hai tháng.
Cuối cùng có một bà cô nhận nuôi tôi. Tôi phải làm mọi việc trong nhà như lau và đánh bóng sàn nhà mỗi buổi sáng, và mỗi buổi tối, phải nấu cơm, đi chợ, chạy việc vặt. Nhưng điều quan trọng nhất là tôi đã được gửi tới học tại một trường học khá danh tiếng. Để đánh đổi lại, tôi phải đồng ý là sẽ hoàn trả những phí tổn này khi tôi trưởng thành và đi làm. Mẹ tôi bắt tôi phải lập lại điều này từng chữ một trước mặt mọi người.
Từ nay, mẹ có thể đến thăm tôi vào những buổi tối bất cứ khi nào mẹ rảnh rỗi, và đôi khi, mẹ có thể ở lại với tôi qua đêm nữa. Mẹ không còn phải bận tâm về việc trả học phí cho tôi. Mẹ để dành số tiền này và sau một năm mẹ đã mua được một bàn máy may cũ hiệu Singer. Với bàn máy may này, khi nào không phải đi làm, mẹ đã may những quần áo mặc hàng ngày và đi rao bán từ nhà này sang nhà khác.
Bốn năm trời qua đi thật nhanh...
Một ngày nọ, mẹ tôi và cả bà cô nữa, báo cho cả nhà một tin vui: Báo chí đang rầm rộ loan tin về một ngày lễ vô cùng trọng đại: Đệ Thập Ngũ Chu Niên ngày đăng quang của nhà Vua. Vào ngày lễ này, nhà Vua sẽ ân xá cho một số tù nhân. Không biết những tù nhân chính trị có được hưỡng ân xá này không? Đối với tôi điều này không quan trọng vì từ lâu tôi đã quen sống như một đứa con không có cha. Tôi chưa biết có cha thì đời sống sẽ ra sao. Buổi tối hôm đó tôi không hề bận tâm về việc này trước khi lên giường đi ngủ.
Vài ngày sau đó, mọi người dường như điên lên vì vui mừng. Báo chí loan tin rằng những người tù chính trị sẽ được trả tự do. Mọi người khóc ầm lên vì vui sướng. Tôi cũng cảm thấy vui lây cái niềm vui ấy mà chẳng hiểu mình vui mừng vì lẽ gì.
Vào ngày những tù nhân được phóng thích, mẹ tôi rời nhà từ tảng sáng, đến chờ tại cổng nhà tù vì tin tức loan rằng các tù nhân sẽ được trả tự do lúc 10 giờ sáng. Buổi ăn trưa được mọi người sửa soạn linh đình. Tôi nghỉ học ngày hôm đó, ở nhà chờ cha tôi về. Thời gian trôi qua thật chậm: mười giờ, rồi mười một giờ mà chẳng thấy ai về cả. Bà cô tôi lo lắng ra mặt. Ông chú tôi chạy tới chạy lui. Đến mười hai giờ mẹ tôi vẫn biệt tăm. Mãi đến mười hai giờ rưỡi, mẹ tôi về, nhưng chỉ thấy về một mình. Bao nhiêu câu hỏi dồn dập, mẹ không kịp trả lời: Chuyện gì đã xảy ra? Sao ông ấy chưa về? Ho chưa phóng thích ông ấy à? Đến bao giờ mới được trả tự do?... Mẹ tôi trông thật mệt mỏi.
Mẹ trả lời rằng trước cổng nhà tù đông người quá, ai cũng muốn biết những điều chúng tôi vừa hỏi. Tin tức duy nhất nhận được đó là những tù nhân sẽ được phóng thích từng nhóm một tại những địa điểm khác nhau trong thành phố vào buổi sáng hôm ấy, kể cả những tù nhân chính trị, nhưng không ai biết được rằng người thân của họ sẽ được phóng thích ở đâu, lúc mấy giờ.
Mẹ tôi đi tắm, thay quần áo và mọi người bắt đầu ăn cơm. Bữa cơm không còn ngon lành gì nữa, chẳng ai buồn nói với ai. Chừng hai giờ chiều, mẹ tôi lại đi nữa, còn tôi vào phòng đọc nốt cuốn sách đang đọc dở dang.
Chưa đọc xong một trang sách, bỗng có một người đàn ông bước vào phòng tôi. Ngẩng đầu lên, tôi thấy ông đứng đó đang nhìn tôi với một nét mặt nghiêm trang. Như một phản ứng tự nhiên, tôi thốt lên: "Ba!". Ba tôi tiến lại gần, quàng tay qua cổ tôi âu yếm: "Con!". Hai cha con chúng tôi bá vai nhau tiến vào phòng trong nơi mọi người đang ngồi lặng lẽ rầu rĩ chẳng ai buồn nói chuyện. Chúng tôi tiến vào, mọi người ngẩng đầu lên nhìn sửng sốt. Một vài giây im lặng rồi mọi người gần như đều lên tiếng cùng một lúc, tiếng cười tiếng nói lẫn với tiếng khóc mừng vui hỗn độn.
Khi mọi người đã bình tĩnh trở lại, cha tôi mới chậm rãi giải thích: "Vào lúc mười giờ sáng, cha tôi và một số những người tù nhân khác được đưa ra khỏi tù đến một trại lính, ở đó, người ta đọc cho họ nghe về quyết định ân xá của nhà Vua. Sau đó mọi người lại được đưa trở lại nhà tù để trình diện với các Giám thị. Ở đây, họ được nghe quyết định phóng thích. Họ ký các loại giấy tờ cần thiết. Khoảng một giờ trưa, tất cả được hướng dẫn ra khỏi cổng nhà tù. Cha tôi không thấy ai đón mình cả bèn hỏi thăm địa chỉ của chúng tôi và tìm đến nhà.
Cô tôi dành cho gia đình tôi một phòng riêng, và lần đầu tiên trong cuộc đời, cha tôi, mẹ tôi và tôi có được những giây phút và một khoảng trời riêng rẽ. Tôi ngủ ngon như chết sau những xúc động tràn đầy hạnh phúc. Từ nay, trong đời sống, tôi có một người cha, với những chăm sóc tôi chưa bao giờ được hưởng. Có những buổi chiều, chúng tôi thả bộ trên các con đường chung quanh. Cả ba chúng tôi sau những năm dài chia cách, giờ đây lại được xum họp trong hạnh phúc gia đình êm ấm.
Khoảng hai tháng sau đó, mẹ tôi cho biết chúng tôi sẽ dọn đến một chỗ ở mới, một căn nhà riêng của gia đình. Cha tôi sẽ mở phòng khám bệnh và làm việc lại. Một người chú họ đã cho cha tôi mượn tiền để làm công việc này. Thế là chúng tôi dọn đến nhà mới. Nhà có hai tầng, tầng dưới là phòng khám bệnh và tầng trên là nhà ở.
Đời sống từ đây mang lại cho tôi nhiều thích thú. Cha tôi còn mở thêm một tiệm bán thuốc tây bên cạnh phòng khám bệnh và cho tôi coi sóc tiệm này. Việc làm của tôi là giữ gìn cửa tiệm cho sạch sẽ, bán các loại thuốc tây theo sự chỉ dẫn của cha tôi.
Cha tôi muốn tôi nghỉ học trong hai năm để giúp cha tôi trong công việc, với điều kiện sau hai năm đó, bất cứ trường học nào tôi muốn, cha tôi sẽ gửi tôi đi. Tôi chấp nhận và rất hài lòng vì mỗi lần được cha tôi hay mẹ nhờ làm việc gì, tôi lấy làm hãnh diện. Mẹ tôi còn cho tôi biết rằng, tôi sẽ được trả một số lương bổng tương đương với công việc tôi làm. Thế là tôi trở nên giàu có! Chưa đầy một năm sau, tôi đã để dành đủ tiền để mua một chiếc xe đạp. Từ nay thế là không phải cuốc bộ nữa. Sau đó, tôi còn sắm thêm được một máy chụp hình và thiết kế một phòng rửa hình. Đời sống tôi thế là quá hạnh phúc.
Cha tôi trả món tiền đã mượn trong vòng hai năm. Cha tôi mua một căn nhà khác, một chiếc xe hơi và thêm một chiếc "ca-nô" nữa.
Gia đình tôi như thế là quá đầy đủ. Thời gian hai năm với tôi đã chấm dứt và tôi nghĩ đến việc trở lại trường học.
Tôi ghi tên học tại một trường Trung học Công Giáo, theo ý tôi, nổi tiếng nhất trong vùng. Cha mẹ tôi không ngăn cản gì cả, chỉ hỏi lý do tại sao tôi lại chọn trường học đó. Tôi trả lời vì tại trường này, tôi có thể có được một nền giáo dục hạng nhất mà tiền có thể mua được. Cha tôi bảo hình như ông đã nghe ai nói câu này trước đây rồi thì phải. Mẹ tôi im lặng không nói gì, có klẽ một ý nghĩ nào đó đang chiếm lấy trí óc mẹ.
Tôi trở lại trường học năm mười bảy tuổi. Học phí bây giờ không còn là vấn đề đối với hoàn cảnh gia đình tôi nữa. Tôi cũng không còn phải nhặt vỏ chuối, quét rác nữa và vấn đề Kitô giáo cũng không còn là một vấn đề bạn tâm đối với tôi. Những việc bây giờ phải làm là học hành, tiếp tục làm việc tại nhà, làm quen với các bạn mới và công việc giải trí là chụp và rửa hình.
Trường Trung học Công giáo này đôi khi gợi cho tôi nhớ đến nhà trường Tin Lành khi xưa tôi đã theo học, nhưng sinh hoạt của nó khác hẳn. Ở đây hình như họ cầu nguyện nhiều hơn. Mỗi ngày lúc vào lớp cũng như lúc tan học, họ đều đọc kinh bằng tiếng Anh. Sau một thời gian, tôi nghe họ nhắc nhiều đến tên Maria khi họ đọc kinh cầu nguyện. Ngay cả trong lớp học, khi các thầy giáo nói về nguồn gốc các tôn giáo, nhưng tất cả những điều này không làm tôi chú ý lắm.
Trong ba năm học sau đó, cái tên Maria gợi lên trong tôi một sự tò mò. Tại sao họ lại gọi là "Thánh Maria", "Trinh Nữ Maria"?. Tôi biết Maria là mẹ Chúa Giêsu, nhưng bà đã làm gì để được gọi là Thánh? Và mãi đến năm lên hai mươi tuổi, tôi mới hiểu nghĩa của hai chữ "trinh nữ". Nhưng làm sao bà là trinh nữ được nếu bà đã là một bà mẹ? Tôi không hiểu được.
Một ngày nọ, khi các học sinh đang ở trong Hội trường đợi nghe kết quả kỳ thi Tam Cá Nguyệt. Một trong những học sinh trước kia ngồi ngay bên cạnh tôi trong lớp được thưởng hạng nhất về môn Giáo lý. Cho đến lúc đó, tôi mới biết trường có lớp Giáo lý và nhiều học sinh đã và đang theo học lớp Giáo lý này. Danh từ Giáo lý là một danh từ xa lạ đối với tôi, nhưng tôi chắc rằng nó cũng là một lớp học giống như lớp học Kinh Thánh bên trường Tin Lành.
Buổi trưa hôm đó, sau khi ăn cơm, tôi không cảm thấy thích chơi đùa như mọi khi. Tôi đang đứng trên cầu thang gỗ dẫn vào lớp học ngó xuống sân chơi xem các học sinh khác bắn bi hoặc đá banh. Tôi chợt nhìn thấy anh bạn Somboon, người đã được phần thưởng Giáo Lý buổi sáng tiến lại nơi tôi đang đứng, trên tay anh cầm một gói đậu phọng rang, miệng nhai lép nhép. Anh tiến lại đứng bên cạnh tôi chìa gói đậu phọng đang ăn về phía tôi hỏi: "Đâu phọng rang nhưng không được dòn lắm! Ăn không?"
Tôi bốc vài hột bỏ vào miệng:
- Somboon à! Sáng nay anh nhận được phần thưởng gì thế?
Vẫn tiếp tục nhai đậu phọng, Somboon nói: "Một cuốn sách".
Tôi hỏi: " Sách gì thế, Somboon?"
Somboon trả lời: "Sách nói về một vị Thánh.". Nói xong, Somboon nhìn quanh và nói
tiếp: "Đánh bi với tôi không?"
Tôi trả lời: "Hôm nay tôi không muốn chơi!"
Somboon hỏi: "Sao vậy?". Tôi trả lời là tôi bận việc.
- Bận mà đứng đây chơi à! Thôi xuống chơi đi, nếu không có bi tớ cho mượn, đi!
- Thật, tôi không thích chơi, tôi đang bận, bận suy nghĩ!
- À, thì ra ông giảng sư đang bận suy nghĩ! Xin ông có thể cho chúng tôi biết ông đang suy nghĩ về vấn đề gì không ạ!
Thật là khó khăn để bắt đầu cho loại câu hỏi này, nhưng tôi cố gắng:
- Somboon! Trong lớp Giáo lý người ta dạy những gì thế?
- À, thì ra đó là điều đang làm bạn suy nghĩ! Trong lớp Giáo lý, chúng tôi học về Phúc
Âm, về Chúa Giêsu và về giáo huấn của Ngài. Chúng tôi cũng học về Phụng Vụ, các Bí tích và nhiều điều khác nữa. Rồi, bây giờ đánh bi với tôi chưa?
Somboon gạ tôi đánh bi với anh để lấy lại số bi anh đã thua tôi lần trước.
Tôi hỏi: "Phụng vụ là gì vậy?"
- Là môn học về Thánh lễ và các nghi thức thờ phượng khác.
Càng nghe tôi càng cảm thấy rắc rối hơn. Đó không phải là điều tôi muốn tìm hiểu. Càng hỏi thêm, tôi càng tò mò hơn:
- Thánh lễ là gì?
- Thánh lễ là ... mà thôi Lert à, trong lớp tôi đã phải học, đã phải trả lời không biết bao nhiêu lần về các vấn đề này, chán quá rồi, xin anh đừng hỏi thêm nữa...
Somboon quay đi.
Tôi thất vọng, nếu để Somboon đi, sẽ chẳng bao giờ tôi có dịp hỏi nữa nên tôi vội nắm lấy tay anh:
- Somboon, tại sao lại gọi là Thánh Maria?
- Gọi Maria là Thánh, vì Maria là Mẹ Thiên Chúa.
- Nhưng các tôn giáo khác họ đâu có gọi Maria là Thánh!
- Tôn giáo nào? Anh định nói tới nhóm Thệ Phản phải không?
Tôi gật đầu.
- Tôi không là thệ phản, tôi là người Công giáo!
- À, thì ra vậy!
Nói thế, nhưng tôi không hiểu gì cả, lại hỏi thêm:
- Còn trinh nữ Maria thì sao?
- Sao là làm sao?
- Bà có phải là trinh nữ không?
- Dĩ nhiên, bà là Trinh Nữ và cũng là Thánh nữa!
- Nhưng làm sao bà có thể là trinh nữ được vì bà có chồng và có con?
- Bà là Trinh Nữ vì Kinh Thánh nói như thế, không tin, tôi có thể đưa Kinh Thánh cho bạn coi, bà chỉ sống chung với Giuse thôi!
- Chuyện đó có thể giải thích thế này: bà không bao giờ "chung chạ" với Giuse, vậy bà phải phản bội Giuse, chung chạ với người khác vì bà đã có một đứa con...
Tôi không ngờ câu nói ấy đã làm cho Somboon nổi giận, mặt anh ta tái nhợt đi, hai bàn tay nắm thành hai quả đấm, gói đậu phọng rang bị ném xuống đất văng tung tóe, như là anh ta sắp sửa tấn công tôi, tôi không hiểu tại sao. Nếu phải đánh nhau với anh ta, tôi đâu có ngán, tôi có thể đo ván anh ta dễ dàng mặc dù anh có vẻ to con hơn tôi. Nhưng hình như anh không có ý định đó. Tôi thấy từ đôi mắt anh hai hàng nước mắt ứa ra và lăn xuống má, anh lúc lắc cái đầu như để xua đuổi đi một ý nghhĩ nào đó, rồi anh quay lưng bỏ đi không thèm lau hai hàng nước mắt nữa.
Còn lại một mình tôi, tôi không có cảm xúc gì sau đó. Tôi tự hỏi, làm gì mà phải khóc? Tôi nghĩ anh ta là một người khó nói chuyện với người khác, tôi hơi thất vọng.
Sáng hôm sau, sau giờ đọc kinh buổi sáng trong lớp, tôi quay sang Somboon hỏi: "Sao hôm qua anh lại khóc Somboon?". Anh không trả lời, tôi lại nói thêm: "Tôi không biết gì về Đức Mẹ Maria cả nên tôi mới hỏi anh!".
Somboon đáp: "Anh đã xỉ nhục Đức Mẹ Maria!"
Tôi phân bua với anh: "Không, chỉ vì không biết nên tôi mới hỏi, thế thôi!"
Anh nhất định: "Anh đã xỉ nhục Đức Mẹ!"
Tôi cố cãi: "Không! Tôi đã không làm điều đó! Tôi ..." Chưa nói dứt lời, tiếng thầy giáo đã quát lên: "Lert và Somboon! Lên đây!"
Cả lớp im lặng như tờ, hai đứa chúng tôi chậm rãi đứng lên tiến về phía thầy.
- Hai trò nói chuyện trong giờ học, ai bắt đầu nói trước?
Cả hai chúng tôi lên tiếng cùng một lúc: "Thưa thầy, con!"
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau cùng ngạc nhiên và trước khi chúng tôi kịp giải thích thêm, thầy giáo mỉm cười nói: "À! thì ra cả hai trò lên tiếng cùng một lúc, vì cả hai cùng bắt đầu, nên giờ đây cả hai trò cùng quì xuống...!"
Chúng tôi cùng quì gối trước mặt các bạn bè trong lớp. Quay mặt nhìn nhau, chúng tôi cùng mỉm cười, một nụ cười có tác động mạnh mẽ hơn bất cứ một lời giải thích nào diễn tả rằng chúng tôi đã làm hòa với nhau.
Mặc dầu ước muốn tìm hiểu cho ra lẽ những thắc mắc trong tôi chưa được giải thích thỏa đáng, nhưng tôi đã quên đi mất. Còn bao nhiêu việc quan trọng hơn phải làm: việc học, việc làm tại tiệm thuốc, bạn bè, việc chụp hình chụp ảnh... Gia đình tôi có nhà cửa, xe hơi, có cả "canô" nữa. Tôi lại có xe đạp, có máy chụp hình...
Nhưng hạt giống đã được gieo, dù ý thức được hay không, tôi đang bước những bước chập chững đầu tiên hướng về Kitô Giáo.
Đó là ý nghĩa của đoạn Phúc Âm Thánh Luca:
"...và những hạt rơi vào bụi gai là những kẻ nghe Lời Chúa, nhưng trong lòng còn có nhiều lo lắng, ham mê giàu sang khoái lạc, nên Lời Chúa không sinh hoa kết trái được." (Lc 8,14)
III
"...và có những hạt rơi trên đá sỏi."
"...và có những hạt rơi trên đá sỏi là những người khi nghe Lời Chúa thì vui mừng nhưng vì không ăn rễ sâu được nên họ tin một thời gian rồi những sự cám dỗ thế gian đến quấy rầy họ khiến họ quên đi mất." (Lc 8,13)
Còn hai năm nữa trong chương trình trung học tôi mới lên đại học, thế mà tôi đã hai mươi mốt tuổi. Việc trễ nãi về tuổi tác này đã không làm tôi nản chí mà lại càng khiến tôi nóng lòng về việc học hơn. Một buổi chiều nọ sau khi suy tính, tôi thăm dò ý cha tôi:
- Ba à! Con muốn trở thành một Bác sĩ Y Khoa!
Nói xong, tôi chờ phản ứng của cha tôi.
Cha tôi hỏi: "Con nói rằng con muốn trở thành một Bác sĩ ấy hả?"
Tôi trả lời: "Thưa ba, không phải vậy, con sẽ trở thành một Bác sĩ. Muốn trở thành chỉ là một ước vọng, đây con sẽ trở thành một Bác sĩ cơ!"
Cha tôi nói: "Ba sợ là con sẽ thất bại, vì ba không thấy nơi con một khả năng hay sự kiên trì cần thiết cho chương trình học. Nhưng dù sao con cũng còn những hai năm nữa ở bậc trung học để suy tính về vấn đề.".
Tôi tiếp tục: "Con thấy con cần phải cho ba biết ý định của con về việc học vì con dự định nhập Viện Đại Học Hồng Kông ngành Y khoa. Để được Viện Đai Học Hồng Kông nhận, con phải học dự bị ít là hai năm tại Hồng Kông để tốt nghiệp chương trình trung học như họ qui định! Ba cho phép con đi nha ba!"
Tôi nhìn sang phía mẹ tôi, với hy vọng mẹ tôi sẽ ủng hộ quyết định này. Mẹ không nhìn tôi, nhưng quay mặt sang phía ba tôi chậm rãi nói:
- Tôi không muốn cho Lert đi Hồng Kông vì xa nhà quá!.
Đây là một khó khăn phải vượt qua, nhưng chí tôi đã quyết:
- Mẹ à! Con biết mẹ luôn tin con, sở dĩ mẹ chưa đồng ý chỉ vì mẹ sợ những nguy hiểm sẽ xảy ra cho con. Con lớn rồi, con có thể một mình vượt qua được những nguy hiểm ấy.
- Lert này! Chúng ta đã phải trải qua không biết bao nhiêu những khó khăn trong nghèo khổ túng cực và chia cách, giờ đây gia đình đang xum họp trong hạnh phúc thì con lại ...
Mẹ tôi không nói hết câu, có một nghẹn ngào nào đó đang chặn trong cổ mẹ.
- Thưa mẹ! Giờ đây bên cạnh mẹ còn có ba, còn con, con muốn có một "nền giáo dục tốt nhất có thể mua được bằng tiền...".
Tôi lập lài lời của mẹ đã nói, chính câu nói này sẽ đặt mẹ vào một trạng huống khó xử và phải chấp nhận cho tôi đi học xa.
- Lert à! Mẹ biết, chính câu nói này mẹ đã nói và đã tâm niệm trong nhiều năm qua, nhưng Hồng Kông thì xa quá ... xa quá ...
Cha tôi lên tiếng: "Lert! cần phải có nhiều tiền cho con theo học một chương trình như thế, nhưng hiện tại chúng ta chưa có đủ.
Tôi mừng quá, tôi đã biết đây là vấn đề sẽ được đề cập đến và tôi đã thu xếp sẵn câu trả lời. Tất cả diễn tiến đúng theo sự sắp đặt của tôi:
- Thưa ba, mỗi năm học tối đa sẽ tốn 120 bảng Anh. Như thế, một tháng chỉ mất có 10 bảng thôi!
Cha tôi ngạc nhiên: "Vô lý! Con đã tìm hiểu cẩn thận chưa?"
- Mẹ tôi ngắt lời: "Có lẽ đúng đó! Lert nó luôn luôn thu xếp, sắp đặt mọi chuyện, khi nó nói như thế có nghĩa là nó đã biết rõ tất cả, ngay như câu chuyện được đề cập đến hôm nay, tôi nghĩ nó cũng đã dự tính hết ...
Cha tôi không để ý đến lời mẹ tôi nói vì hình như ông còn một vài lý do khác để có thể ngăn cản tôi.
Dĩ nhiên, chúng ta có thể có 10 bảng Anh trong một tháng, nhưng chúng ta không thể có đủ một lần 120 bảng, cộng thêm tiền phí tổn di chuyển từ đây tới Hồng Kông.
Tôi biết đây là lý do cuối cùng cha tôi có thể nghĩ được và đưa ra để ngăn cản tôi. Nhưng như mẹ tôi đã nói, tôi đã sắp xếp câu chuyện này từ trước và tôi cũng đã dự trù rằng điều này sẽ được đề cập đến. Tôi muốn ngay lúc này, khi câu chuyện được bàn tới, tôi phải được chấp nhận.
Con cũng đã để dành sẵn được một số tiền, thật ra thì chưa đủ, nhưng còn mấy tháng nữa cơ mà! Con không cần ngay một lúc 120 bảng, chỉ một nửa số tiền đó thôi cũng đã có thể đủ trong lúc ban đầu.
Mẹ tôi thấy cha tôi không còn lý do nào nữa để ngăn cản tôi vì ông đã rơi vào sự sắp xếp của tôi. Mẹ tôi nghiêm giọng:
- Lert à! Con không đi được ...
Dù mẹ tôi chưa nói, nhưng tôi có cảm tưởng đây là một trở ngại lớn mẹ sắp sửa đưa ra.
- Vì con là một Phật tử, cho nên bổn phận của con, đứa con duy nhất trong gia đình là con phải đi tu. Con cũng đã đến tuổi rồi. Bổn phận báo hiếu của con cái đối với cha mẹ quan trọng hơn việc học hành.
Mẹ tôi nói đúng, là đứa con duy nhất trong một gia đình Phật giáo, bổn phận quan trọng của tôi là báo hiếu cha mẹ. Một người Thái lan là một Phật tử ngay từ lúc sinh ra, họ học hỏi về Phật pháp ngay từ khi còn trong lòng mẹ. Ho được dạy cách chào kính theo phong tục tập quán Thái lan bằng cách chắp hai tay trước mặt và cúi đầu (đây cũng chính là cách chào kính khi gặp một nhà tu Phật Giáo). Họ sống và lớn lên trong môi trường Phật Giáo từ lúc sinh ra cho đến khi chết. Đời sống của họ gói ghém quanh những ngôi chùa cổ kính. Từ cách đặt tên khi sinh ra, cách cứu chữa khi có người bị bệnh tật đến việc cất nhà cho người sống, chôn cất lập mộ xây bia cho người chết, đều là những nghi thức theo Phật pháp. Cử chỉ của họ trước một nhà sư phải là một cử chỉ thật lễ độ và cung kính. Họ phải gìn giữ tư cách và cẩn trọng trong lời nói hầu tránh việc cám dỗ nhà sư với những sự việc trần thế. Tội cám dỗ này sẽ không thể tha thứ được.
Tôi được sinh ra trong một môi trường Phật Giáo như thế. Tôi lớn lên và được đúc khuôn trong kiểu mẫu ấy, không phải do những khóa huấn luyện mà chính là do đời sống tự nhiên. Người ta trở thành Phật tử bằng cách sống đời sống của một Phật tử chứ không do một nghi thức gia nhập nào cả. Thật ra không có một nghi thức nào để gia nhập vào Giáo Hội Phật Giáo. Cũng không cần phải tuyên xưng niềm tin. Ngay cả một người trước kia không phải là một Phật tử đi nữa cũng vậy. Điều dễ nhất thế giới ai cũng có thể làm được đó là trở thành một Phật tử: Hoặc khi sinh ra đã là một Phật tử, hoặc bắt đầu sống như một Phật tử thì đương nhiên họ là một Phật tử. Sống như một Phật tử còn dễ hơn nữa, không ai bắt họ từ bỏ một điều gì, không cần tin có thượng đế, thần thánh hay Thiên Chúa, có khi tin như thế còn bị coi là vô ích nữa.
Là một Phật tử, bạn có năm luật lệ đơn giản để theo, những luật lệ này do chính Đức Phật dạy:
1. Không được sát sinh,
2. Không được ăn cắp,
3. Không được ngoại tình,
4. Không được nói dối,
5. Không được uống rượu.
Đây không phải là các giới răn mà chỉ là những qui tắc hướng dẫn những Phật tử. Đức Phật đã tuyên bố cách nay hơn hai ngàn năm trăm năm rằng Ngài không phải là thần thánh. Do đó, Ngài không ra lệnh hay cứu rỗi được ai cả. Ngài đã giảng rằng: "Chỉ mình mới có thể cứu mình được.". Nếu những lời Ngài chỉ dạy không giúp được gì cho ai thì Ngài cũng không thể làm gì khác hơn được.
Vì vậy, tôi chẳng bị ràng buộc bởi một giới răn nào cả. Nếu do lời nói hay việc làm của tôi mà một sinh mạng bị sát hại dù là cỏ cây, súc vật hay con người, tôi phải chịu trách nhiệm. Đời sống của tôi bây giờ, hay số phận của tôi sau khi chết hoàn toàn tùy thuộc vào điều này. Không có một tội lỗi nào được tha thứ, vì tội lỗi do ta phạm chống lại chính ta, không chống lại người khác. Những việc ta làm có hậu quả ngay ở đời này và ảnh hưởng đến đời sau hay cả trong hai đời. Chúng ta sẽ ở đâu hay sẽ ra sao sau này không ai có thể biết được. Làm một việc thiện không bù đắp được cho những điều ác, nhưng chính việc thiện này sẽ đưa đến những những phần thưởng riêng ban cho ta ở đời này hay ở đời sau.
Mặc dù chẳng có ai theo dõi xem tôi có sống đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật không, nhưng đã có mẹ tôi như một nhà giáo và quan tòa bên cạnh. Mẹ tôi luôn luôn coi chừng xem tôi có lỗi phạm điều luật nào không. Sự kiểm soát này gieo vào trí óc tôi một qui tắc sống xa tránh các tội lỗi theo luật của Đức Phật. Cuối cùng, tôi nhận thấy có một điều chắc chắn là sau khi làm một điều lỗi chả có hình phạt nào giáng trên tôi cả mà điều duy nhất xảy đến là sự hối hận chua xót trong chính con người tôi.
Lớn lên bên cạnh cây roi mây dài trong tay mẹ tôi, dù tôi vẫn được tự do, nhưng kết quả của việc dạy dỗ, giáo dục và đòn vọt đã tạo cho tôi thành một con người mẫu mực. Sự mẫu mực này đã khiến tôi không thể nào không nghĩ tới sự báo hiếu như bổn phận con cái trong gia đình bằng cách gia nhập tu tại một nhà chùa trong một thời gian ba tháng.
Tôi đã học được khá nhiều về Phật pháp tại nhiều trường học khác nhau. Tôi và mẹ tôi lại thường hay nói chuyện về những bài giảng của Đức Phật. Do đó mẹ tôi biết tôi đang nghĩ gì về việc trở thành một tu sĩ Phật Giáo để báo hiếu cho cha mẹ. Mẹ tôi tôn trọng ý kiến của con cái, chính vì thế việc tôi đi tu chưa bao giờ được đề cập tới. Mọi người đều hiểu rằng nếu chính Đức Phật cũng đã không san sẻ ơn phước được cho ai, thì một người thường như tôi lại chỉ đi tu trong một thời hạn ba tháng làm sao có thể chia sẻ gì cho ai được trừ ra chính cho tôi, nếu tôi có được một ơn phước nào đó.
Tôi hối hận vì đã nhắc tới việc một "nền giáo dục tốt nhất có thể mua được bằng tiền" để áp lực cha mẹ tôi rồi cuối cùng áp lực ấy lại đè nặng lên chính tôi. Tôi sợ phải xa cha mẹ tôi, nhưng tôi phải đi, đầu óc tôi loay hoay với những tư tưởng hỗn độn khác nhau.
Cha tôi hiểu rằng việc tôi đi học chưa được dứt khoát giải quyết vì tôi đuối lý rồi. Ông quyết định để hai mẹ con tôi bàn bạc. Sự liều lĩnh cố hữu của tôi bộc phát khiến tôi nghĩ tới việc muốn lý luận với mẹ tôi về vấn đề đạo giáo. Liệu mẹ tôi có tin rằng khi tôi đi tu, tôi sẽ chuyển được cho bà ơn phước? Nhưng dù sao mẹ cũng biết tôi quá rõ và sợ rằng lý luận của tôi về điểm này sẽ càng làm tôi đuối lý hơn. Tôi đành xoay qua cách khác. Vì bằng mọi cách, tôi phải được phép của mẹ tôi đã, sau đó tính sau.
- Thưa mẹ! Vậy nếu con nhập tu trong ba tháng xong rồi, sau đó, mẹ có cho phép con đi Hồng Kông học không?
Nghe tôi nói, mẹ tôi thất vọng vì mẹ nghĩ tôi không liều mạng đến thế. Đến nước đó, mẹ tôi nói xuôi theo:
- Được, mẹ sẽ chấp nhận cho con đi sau khi con nhập tu xong thời hạn ba tháng.
Nhận thấy mẹ tôi chẳng còn lý do nào để ngăn cản nổi tôi nữa, cha tôi lên tiếng: "Lert à! Ba không thấy cần con chia sẻ ơn phước con có được khi con đi tu, con có thể để hết cho mẹ con.".
Tôi nghĩ rằng nếu cha tôi đã có thể ở tù trong suốt mười bốn năm trường thì tôi cũng có thể ở trong chùa được ba tháng với hy vọng là sau đó tôi sẽ được đi học tại Hồng Kông.
Mẹ nói thêm: "Dù sao con cũng không thể nhập tu trong năm nay được vì thời hạn nhập tu trước mùa chay năm nay chỉ còn có tám ngày nữa thôi!".
Điều này thì ai cũng phải biết, đó là một người chỉ có thể nhập tu trong thời gian nhất định nào đó thôi. Thời gian đó là trước khi mùa chay bắt đầu và tiếp tục trong ba tháng. Tôi lo lắng ra mặt: phải dời lại một năm, rồi thêm ba tháng nữa làm tôi khó nghĩ.
- Cũng còn có thể kịp mẹ ạ!
- Làm sao kịp được, con cũng đã biết rằng phải mất ít nhất là sáu tháng để chuẩn bị cho những ai muốn nhập tu.
- Mẹ à! Con biết chứ, có khoảng 20 đến 30 trang giấy ghi các lời cầu nguyện, các câu hỏi và các câu trả lời phải học thuộc lòng cho ngày nhập tu. Thêm vào đó phải có hai nhà sư đỡ đầu bảo đảm cho thời gian tu. Con có thể học thuộc 20 hay 30 trang sách này trong ba ngày và mẹ có thể khảo lại con.
- Mẹ nghĩ rằng chẳng có một Vị Sư Trưởng nào chịu chấp nhận cho con nhập tu trong thời gian ngắn như thế!
Tôi vội vã nói: "Thế thì ngày mai chúng ta sẽ đi gặp Sư Trưởng ... không ... chúng ta hãy đi gặp Ngài ngay bây giờ ...
- Mẹ quay nhìn cha tôi, cha tôi mỉm cười nói với mẹ: "Tôi không dính dáng gì đến việc này, mọi ơn phước Lert đều để cho mẹ tất cả!".
Mọi gia đình trong họ hàng đều được báo tin tôi sẽ nhập tu. Họ đến chúc mừng cha mẹ tôi tới tấp. Riêng đối với tôi không ai chúc mừng gì cả. Mọi người nhìn tôi với ánh mắt thương hại và thông cảm. Vài người nghi ngờ rằng tôi sẽ không thể sống cuộc sống tu hành kham khổ được trong vòng ba tháng. Thậm chí còn có vài người đánh cá với nhau rằng tôi sẽ xuất tu trong vòng ba tuần lễ, vì một nhà sư chỉ được phép ăn hai lần trong một ngày. Lần ăn thứ nhất vào lúc tám giờ sáng và lần ăn thứ hai phải ăn trước giờ ngọ. Trong suốt khoảng thời gian từ sau lần ăn thứ hai đến tám giờ sáng hôm sau không được phép ăn uống gì ngoại trừ nước lạnh hay nước trà. Sau khi nhịn cả một ngày dài từ trưa hôm nay cho đến tám giờ sáng hôm sau, thường thường người ta ăn thật nhiều vào lần ăn lúc tám giờ sáng. Nhưng vì ăn nhiều vào lúc tám giờ sáng rồi, nên đến lần ăn lúc 11 giờ 30 không ăn nhiều được nữa, và vì không ăn nhiều lúc 11 giờ 30 nên từ sau đó đến sáng hôm sau sẽ đói lả người đi. Chính tôi cũng không chắc chắn là tôi có thể nhịn như thế được trong suốt thời gian ba tháng.
Khi gặp Sư Trưởng tôi lại thêm một ngạc nhiên nữa. Ông cho biết rằng để nhập tu, không phải tôi chỉ phải học thuộc lòng 20 hay 30 trang giấy, nhưng để trở thành một nhà sư, tôi phải học biết qui tắc, luật lệ của Đức Phật đã để lại cho những người tu hành. Tất cả những qui tắc luật lệ này phải được viết trên giấy tờ. Khi phạm bất cứ một lỗi phạm nào phải thú nhận với một nhà tu khác và nếu lỗi quá nặng sẽ bị trục xuất khỏi chùa. Vị Sư Trưởng sẵn sàng rộng lòng chấp nhận tôi, nếu tôi hứa sẽ học những qui tắc luật lệ này trong thời gian ba tháng tu trì cộng thêm với học thuyết của Đức Phật và các bài giải thích các học thuyết ấy.
*
Sáng sớm ngày nhập tu, tóc và lông mày của tôi được cạo nhẵn nhụi. Quần áo mặc hằng ngày được thay vào bằng một áo choàng trắng. Qua nhiều giờ đồng hồ, tôi ngồi nghe đọc những diễn tiến về chính đời sống tôi với từng chi tiết một, kể từ khi tôi còn trong lòng mẹ, sự đau đớn mẹ tôi đã phải chịu khi sanh tôi, những khổ sở, lo lắng trong việc dưỡng nuôi tôi cho đến ngày khôn lớn. Tôi phải nhận biết và đền đáp công ơn mẹ tôi, ngay cả đến những giọt sữa mẹ đã cho tôi bú mớm. Cuối cùng, vì tất cả những điều ấy, bổn phận của tôi là phải trở thành một nhà sư để đền đáp ơn nghĩa cha mẹ. Những ơn phước từ công việc phúc đức này sẽ dẫn đưa cha mẹ tôi tới thiên đàng. Thật sự trong lòng tôi cũng ao ước như vậy.
Vào lúc 11giờ30 sáng, tôi ăn cơm trưa. Tôi cố gắng dồn thật nhiều thức ăn vào bao tử vì biết rằng tôi sẽ không được ăn uống gì cho đến mãi 8 giờ sáng ngày mai.
Hai nhà sư đỡ đầu cho tôi dẫn tôi đi vòng quanh Hội đường ba vòng, theo sau là cha tôi hai tay bưng chiếc hộp thiếc tôi sẽ dùng để khất thực, kế đến là mẹ tôi hai tay trịnh trọng nâng tấm áo cà-sa, rồi đến những người khác, bạn bè... Mỗi người trong tay đều có những vật dụng cho tôi dùng trong những ngày tu hành. Người nào cũng sung sướng. Riêng đối với tôi, mặt trời hình như có vẻ nóng hơn, tôi cảm thấy mệt mỏi và đói lả mặc dù tôi vừa mới ăn cách đó có hai tiếng đồng hồ.
Bên trong Hội đường, chín nhà sư ngồi san sát nhau, trước mặt tôi là hàng hàng lớp lớp các tượng Phật bằng đồng hay bằng vàng, Vị Sư trưởng ngồi phía trước. Tất cả chúng tôi ngồi đối diện, mọi người ngồi sau tôi.
Đến trước mặt Vị Sư trưởng trình diện, tôi cúi đầu chào theo nghi lễ rồi cất tiếng theo cung điệu xin Vị Sư trưởng nhận tôi nhập tu. Bao nhiêu câu hỏi sau đó liên tiếp được hỏi: Nào là tôi có được khỏe mạnh bình thường không? Nào là tôi có sẵn sàng từ bỏ thế gian và những công việc trần tục không? Tôi có nợ nần ai về vật chất hay về tinh thần không? Có ai hiện diện đòi tôi một nợ nần nào không? Mỗi câu hỏi được hỏi ba lần để chắc chắn rằng tôi thanh thản, không vướng mắc bất cứ ai một món nợ nào. Không ai lên tiếng và nghi thức nhập tu tiếp tục.
Tấm áo choàng trắng được cởi bỏ, thay vào là tấm áo cà-sa, với chiếc hộp thiếc khất thực đeo bên hông, tôi trình diện trước Vị Sư trưởng. Hai vị sư đỡ đầu cho tôi tuyên bố rằng tôi có đủ điều kiện để trở thành một nhà sư xét theo luật lệ Đức Phật đã ban bố. Những lời cầu nguyện bắt đầu được đọc, có những lời khuyên cho tôi... và tôi trở thành một nhà sư.
Tôi đã cho các bạn tôi tại trường học biết việc tôi nhập tu từ ngày hôm trước, nhưng chẳng ai tin tôi cả, ngay cả Sư huynh hướng dẫn lớp cũng cho rằng tôi nói đùa. Sư huynh còn nhắc tôi nhớ đừng quên làm bài làm ở nhà để sáng hôm sau nộp. Tôi thưa với Sư huynh là tôi sẽ gửi bài làm đến nhưng tôi sẽ vắng mặt ngày hôm sau vì tôi bận... nhập tu.
Sau ngày nhập tu, tôi trở lại trường học như thường lệ. Vẫn lớp học cũ, vẫn chỗ ngồi cũ, chỉ có một điều khác biệt là thay vì mặc đồng phục của trường, tôi mặc áo cà-sa. Thật là một điều chưa từng xảy ra khi nhìn thấy một nhà sư theo học tại trường học Công giáo. Điều này làm các Sư huynh khó chịu, nhất là Sư Huynh phụ trách lớp. Ông hỏi ý kiến của Sư Huynh Hiệu trưởng rồi gọi tôi lên Văn Phòng. Tại Văn Phòng, Sư Huynh cho tôi biết tôi không nên đến trường nữa và ông thắc mắc tại sao tôi không sống trong chùa là nơi dành riêng cho các thày tu Phật Giáo.
Tôi thưa với Sư Huynh là tôi không thấy có một lý do nào trở ngại trong việc một tu sĩ Phật Giáo muốn theo học tại một trường học Công Giáo. Hơn nữa nhà trường cũng không hề có luật lệ cấm học sinh mặc áo cà-sa khi đi học. Ông gắt lên với tôi và nói rằng sự hiện diện của tôi làm chia trí các học sinh khác khi tôi ngồi trong lớp với cái đầu cạo nhẵn bóng, cả lông mày cũng cạo nốt và mặc áo cà-sa thùng thình, các học sinh khác không chấp nhận nổi. Cuối cùng, tôi phải đồng ý với ông và quyết định thôi học. Khi thôi học, tôi được Sư Huynh Giám học cho một giấy giới thiệu thật tốt.
*
Đời sống tu của tôi là một chuỗi ngày buồn chán nối tiếp nhau. Tôi bị tách ra khỏi thế giới bình thường chung quanh, cái thế giới mà chính tôi đã tự ý từ chối trước khi nhập tu. Tôi không bị thế giới ràng buộc một điều gì và đồng thời tôi cũng không có điều gì ràng buộc nó. Khi tôi cởi bỏ tấm áo sơ-mi lần cuối cùng trước khi khoác vào tấm áo cà-sa là lúc tôi tuyên bố dứt khoát với vật chất trần gian. Tấm áo cà-sa tôi đang mặc, chỉ là một tấm vải màu vàng do lòng tử tế của mọi người cho tôi để che thân. Tôi không lệ thuộc vào nó vì nó không phải là của tôi.
Không một nhà tu nào trực tiếp hay gián tiếp làm chủ một món gì thuộc về trần thế, lý do đơn giản là vì ông ta không thuộc về trần gian nữa. Điều này khắt khe đến nỗi nếu một người thường vô tình chạm vào áo cà-sa của một nhà tu trên đường phố, nhà tu ấy phải vứt bỏ tấm áo này ngay khi về đến nhà và không bao giờ được phép mặc lại nó nữa. Mặc nhiên được chấp nhận rằng khi một tấm áo bị đụng đến như thế là do người kia phản đối nhà sư mặc tấm áo đó. Cùng một nguyên tắc như thế được áp dụng ngược lại: Nhà sư không được phép đụng đến một vật thể gì không thuộc về ông trừ khi một cách thật hiển nhiên, vật thể ấy đã được bố thí cho ông. Vì vậy, khi ai bố thí cho một nhà sư món gì, người ấy phải dơ món ấy ra phía trước bằng cả hai tay, dấu hiệu của việc cho đi, trong trường hợp một món gì đó quá lớn hay không thể cầm lên được, phải có những diễn tả thật rõ ràng.
Đời tu thật bình thản nhưng vô nghĩa và vô ích. Nếu Đức Phật đã nói rằng "không ai có thể cứu được người khác" thì tôi không giúp cho ai được điều gì. Nhưng tôi đã quyết chí như thế, tôi sẽ theo đến cùng. Nếu tôi không thể san sẻ, giúp đỡ cho ai được ngoại trừ chính tôi thì ít nhất, tôi cũng phải giúp cho tôi được một điều nào đó. Như thế, tôi quyết định rằng trong thời gian ba tháng tu hành này, tôi sẽ cố gắng học thật nhiều về Phật pháp. Thư viện Quốc gia có biết bao nhiêu sách về loại này, tôi sẽ tha hồ.
Mỗi buổi sáng tôi thức dậy vào lúc 5 giờ 30 sáng, khoác áo cà-sa một cách cẩn trọng theo luật dạy và bắt đầu đi khất thực, gom góp thức ăn sẽ được các gia đình chung quanh bố thí. Giờ này, họ đang đứng chờ các nhà sư tại cổng nhà với cơm, cá, thịt, bánh ngọt, trái cây và đang sẵn sàng bỏ vào các hộp khất thực của các nhà sư. Tôi cầu nguyện âm thầm cho mỗi người khi họ cho tôi thức ăn.
Mọi người đều hiểu rằng một nhà sư không đi xin ăn, nhưng vì họ đã từ bỏ thế gian. Ngay cả một căn bếp để nấu ăn họ cũng không có, nên họ sống do những gì mọi người tặng cho họ. Hành động trao tặng này đưa đến ơn phước cho những ai làm như thế. Vì vậy, luật buộc các nhà sư không được từ chối bất cứ ai khi họ trao tặng thức ăn. Trừ khi đau ốm liệt giường, mọi nhà sư phải đi thâu nhận các thức ăn được trao tặng này vào mỗi buổi sáng.
Tôi sẽ đi qua mọi nhà và khi nhà nào đó có một dấu hiệu mời gọi tôi, tôi dừng lại và nhận thức ăn. Đây là một điều bắt buộc, dù khi hộp khất thực của tôi đã đầy, tôi cũng không được từ chối. Từ chối một người khi họ trao tặng là một trọng tội đối với một nhà sư. Cơm và các loại thức ăn được ấn chặt xuống để mọi người có thể bỏ vào thêm.
Tôi phải trở về chùa trước 8 giờ sáng, cơm và các loại thức ăn được một cậu bé giúp việc xếp riêng ra từng loại, tôi ngồi xuống và bắt đầu dùng những thức ăn đó. Đối với một tu sĩ Phật Giáo, thức ăn chỉ có một mục đích duy nhất là nuôi sống. Thưởng thức mùi vị ngon lành của thức ăn là phạm tội. Hơn nữa, nếu tôi không ăn thức ăn của tất cả mọi người đã trao tặng cũng là một tội. Do đó, tôi phải nếm qua tất cả các thức ăn đã nhận, chọn một loại thức ăn nào đó đặc biệt là phạm tội. Sau khi ăn, tôi lại một lần nữa cầu nguyện cho những người đã tặng thức ăn cho tôi.
Mỗi ngày sau bữa ăn sáng, tôi học các luật lệ của một tu sĩ và giáo huấn của Đức Phật. Vào lúc 11 giờ 30 sáng, tiếng trống treo nơi tháp chuông điểm báo giờ ăn trưa: bữa ăn thứ hai và cũng là bữa ăn cuối cùng trong ngày, từ đó cho đến sáng hôm sau, không một thức ăn nào được phép đưa qua miệng nữa.
Trước giờ nghỉ đêm, tôi phải xét mình và thú tội. Tôi có thể vô tình đã dẵm lên, làm bị thương hay làm chết một sinh vật nào đó khi đi đường. Có thể tôi đã xúc động khi nhìn một người người đàn bà nào đó trong lúc họ trao thức ăn cho tôi vào buổi sáng. Có thể tôi đã lấy làm vui thích khi được tắm trong cái ao mát mẻ bên cạnh chùa lúc buổi trưa. Tất cả những điều này đều là tội, tôi phải thú nhận hết.
Đối với cá nhân tôi, sự thú nhận này thật là vô lý. Vì vậy, tôi chẳng cảm thấy một chút ăn năn hối hận nào cả. Khi một con muỗi chích tôi, tôi liền đập nó chết và nghĩ rằng nó vừa đền tội cho những tội lỗi nó đã phạm kiếp trước và giờ đây tôi đã giải thoát nó khỏi kiếp làm muỗi.
*
Một ngày nọ, khi những thủ tục đầu tiên đã kết thúc, tôi nghĩ đã đến thời gian tôi đi giảng đạo. Tôi bàn luận với hai nhà sư đỡ đầu của tôi, các ông này không có ý kiến. Tôi liền đi gặp Vị Sư Trưởng, sau khi nghe trình bày, ông cười lớn và nói với tôi: "Thưa Thày, tôi biết Thày rất thông minh, nhưng để giảng thuyết cho các tín đồ thì Thày chưa đủ khả năng đâu, có thể sẽ mất khoảng vài năm nữa...".
Vâng lời là một trong những luật lệ tôi phải tuân theo. Một tuần lễ sau đó, tôi xin gặp riêng Vị Sư Trưởng trong vòng 45 phút. Trong suốt thời gian này, tôi đọc thuộc lòng cho ông nghe tất cả những điều luật tôi đã học thuộc, kể cả một bài giảng cho tín đồ tôi đã soạn sẵn. Sau khi chấm dứt, ông nói: "Tôi rất hãnh diện về sự cần mẫn và hết lòng của Thày, việc Thày xuất hiện và giảng đạo nơi công cộng sẽ bị chống đối vì Thày chưa có kinh nghiệm, tuy nhiên tôi rất hài lòng cho Thày giảng bài giảng đầu tiên.".
Tôi liền nhắn cha mẹ tôi đến xin cho tôi giảng vì tôi chỉ được phép giảng nếu có ai mời mà thôi.
Để chắc chắn là tôi không bỏ sót một chi tiết nào đã soạn cho bài giảng, tôi tóm tắt và ghi lên một bên cây quạt tôi vẫn cầm nơi tay.
Rất bình tĩnh, tôi ngồi trên một chiếc bệ đã được kê sẵn theo luật định và bắt đầu hỏi mọi người hiện diện đã sẵn sàng nghe lời giảng chưa. Khi mọi người đã trả lời sẵn sàng, tôi lại hỏi họ có sẵn sàng chấp nhận và thực thi năm giới luật Đức Phật đã dạy không? Những ai chấp nhận hãy lập lại những giới luật này theo tôi, những ai không chấp nhận hết năm điều thì hãy coi những điều kia như không có.
Tôi chấm dứt bài giảng không vấp váp và thiếu sót vì tôi đã học thuộc lòng bài soạn trước, ngay cả những lời vấn đáp cũng tuyệt vời. Nhưng tôi nhận thấy hình như có một điều gì không ổn? Tôi hy vọng sau bài giảng người ta sẽ quyên tiền... Nhưng rồi sau đó tôi biết rằng mẹ tôi đến nghe tôi giảng là vì bị bắt buộc và không ai cho tiền hay quyên tiền gì cả. Mẹ tôi tiến tới nói với tôi: "Thưa Thầy, Thầy giảng rất hay và hấp dẫn, tôi rất hãnh diện, và đây là những quà tặng của tôi, hoa, nến và trầm hương, xin Thầy dâng lên Đức Phật dùm cho và cảm ơn Thầy về những ơn phước tôi nhận được từ bài giảng của Thầy.".
Tối hôm đó, tôi có thêm một tội lỗi nữa để thú nhận đó là tôi đã ước muốn tiền bạc và vì không có được, tôi đã tỏ ra thất vọng não nề.
*
Trong những tuần lễ sống như một nhà tu Phật Giáo, tôi niệm được một điều là tôi không thể nào đạt được cõi "Niết Bàn". Bất cứ điều nào tôi làm hình như cũng đều là tội lỗi. Có lẽ tôi không nhập tu thì tốt hơn, vì như thế, tôi không phạm tội như bây giờ. Càng ở lâu trong hàng tu sĩ, tôi càng phạm tội nhiều hơn và không một tội lỗi nào trong số này đáng tha thứ cả. Ngay khi sống như một người thường, tôi đã không đếm nổi các mạng sống tôi sát hại mỗi ngày bằng cách này hay cách khác. Mỗi ngày hình phạt càng chất chứa lên tôi đời này và đời sau.
Tôi sẽ không được giải thoát. Với nỗi thất vọng này, tôi mất niềm tin nơi Phật pháp. Tôi không thể đến gần được sự bình an vĩnh cửu của "Niết Bàn" dù với tất cả những cố gắng. Đời sống tôi giống như sáp của một cây nến cháy chảy ra và khi tất cả đã tan biến, không còn cây nến nữa, cũng không còn đời sống nữa. Tôi đi đến tận cùng...
Những lời tôi đã nghe với niềm vui trong nhiều năm qua có thể ví như những hạt giống rơi trên đá sỏi, không đâm rễ sâu được, rồi thời gian với những cám dỗ thế tục nó đã chết. Ước vọng trở thành Bác Sĩ Y Khoa đã đày đọa tôi trong đời sống tu sĩ này. Giờ đây, tôi phải an ủi chính tôi bằng ước vọng đó và tưởng tượng đến ngày tôi lên đường đi Hồng Kông.
IV
"...và có những hạt rơi vào vùng đất tốt...".
"...và những hạt rơi vào vùng đất tốt là những kẻ nghe Lời Chúa với một trái tim đơn sơ và chân thành, họ sinh lợi ra gấp trăm lần".(Lc 8,15).
Thời gian vùn vụt trôi qua, chẳng bao lâu ba tháng trời qua đi.
Hai tuần lễ sau đó tôi đã có mặt tại Hồng Kông, khi tàu đến bến, một người bạn đã từng học với tôi trước kia ra đón tôi và dẫn tôi vào gặp Thầy Giám Đốc trường. Tôi nhập học từ hôm đó.
Lại một lần nữa, tôi theo học tại trường học Công giáo. Đối với tôi bây giờ, bất cứ tôn giáo nào cũng chẳng làm tôi rung động. Nếu cha tôi đã không hề tin một thần thánh nào bao giờ, thì tôi bây giờ là một kẻ theo chủ nghĩa hoài nghi. Việc tôi chú tâm tìm hiểu Phật Pháp đã giúp tôi mở mang kiến thức về lãnh vực này, nhưng ngược lại, nó lại làm tôi xa khỏi tôn giáo ấy. Nếu đúng theo lời Đức Phật dạy rằng ước muốn chính là căn nguyên làm ngăn trở một người tiến tới cõi Niết Bàn, thì tôi sẽ không bao giờ có thể đạt được cái cõi Niết Bàn ấy.
Sự bình an vĩnh cửu là cứu cánh của đời sống con người và nếu Niết Bàn là sự bình an vĩnh cửu ấy thì tôi muốn đạt tới Niết Bàn. Nhưng nếu chính sự ước muốn này: ước muốn để đạt tới, ước muốn để sống và hành động để có được Niết Bàn lại là một ngăn trở khiến người ta không đạt được Niết Bàn, thì tốt hơn, tôi nên đầu hàng trước khi ước muốn.
Những Linh mục Dòng Tên làm chủ và điều hành trường tạo cho tôi một bầu không khí mới. Họ rất tử tế và thông cảm nhưng đối với tôi họ nghiêm khắc quá đáng. Họ đưa tôi vào sự nghiêm khắc một cách từ tốn và thân thiện khiến tôi không làm gì khác hơn được là vui vẻ chấp nhận. Không một ai tỏ ý khuyến khích tôi vào đạo. Nhưng Lúc nào tôi cũng cẩn trọng trong vấn đề này. Tôi nghi ngờ rằng họ sẽ đưa tôi vào bẫy để rửa tội tôi: tôi tránh sinh hoạt với họ, ngay cả khi họ liên lạc muốn đổi những con tem cũ của tôi, tôi cũng từ khước. Tôi muốn văn bằng Bác sĩ Y khoa chứ không phải tôi đi tìm theo một tôn giáo khác.
Tôi dồn hết nỗ lực vào việc học, nhưng Anh văn tôi còn kém và những bài thi theo chương trình tốt nghiệp Trung học tại Luân Đôn quá khó. Thường thường tôi phải học đến khuya mỗi đêm mặc dù luật trường là đến 10 giờ đêm phải tắt đèn.
Một đêm nọ, tôi thức khuya vì một bài Đại số quá khó không giải được, tôi lại buồn ngủ nữa, chỉ có một cách giải quyết nhanh chóng nhất đó là đến gặp Cha Dan, thầy dạy tôi. Lúc đó vào khoảng 11 giờ đêm, trời tối đen như mực. Tôi đến phòng Cha và thấy trong phòng Cha đèn vẫn còn sáng, tôi gõ cửa và bước vào. Hàng đống tập vở chồng chất bên cạnh Cha và Cha đang bận rộn sửa những bài làm của chúng tôi. Cha nhìn lên hỏi: "Cái gì đó? Giờ này mà chưa đi ngủ à?".
Tôi trả lời: "Thưa Cha chưa! Con mất cả tiếng đồng hồ rồi mà sao bài toán này vẫn không giải được!".
Cha có vẻ không vui nhưng Cha bảo tôi đưa bài toán cho Cha xem. Cha nhìn bài toán một lúc, trao lại cho tôi, Cha nói: "Con dùng công thức sai, đây mới là công thức con phải dùng.". Rồi Cha đưa cho tôi công thức ấy.
Cám ơn Cha xong, tôi cầm cuốn tập lên định ra về nhưng Cha giữ tôi lại: "Ngồi xuống đây Lert! Con đến thật đúng lúc! Bài làm của con làm Cha mệt quá!".
Tôi lo lắng ngồi xuống không biết nói gì. Im lặng một chút, tôi lên tiếng: "Thưa Cha con cũng mệt ghê, kỳ thi đã đến nơi rồi, môn toán con không lo lắm, nhưng Anh văn của con còn kém, có lẽ con không đậu được.".
Cha Dan nói: "Chưa biết được! Nhưng sau này con muốn làm gì?"
- Thưa Cha! Con muốn trở thành Bác Sĩ Y khoa.
- Bác sĩ là người xoa dịu những đau đớn phần xác, tốt lắm, nhưng sao con lại muốn trở thành Bác sĩ?
- Thưa Cha! Cha con cũng là một Bác sĩ.
- Cha hỏi con tại sao con lại muốn trở thành Bác sĩ, Cha không hỏi con tại sao người khác làm Bác sĩ!.
Tôi ngại ngùng:
- Thưa Cha! Con muốn giúp những người đau khổ.
- Tại sao con lại muốn giúp những người đau khổ?
Thật khó trả lời những câu hỏi này. Tôi mệt quá rồi, lại buồn ngủ nữa, chỉ muốn leo lên giường cho khỏe, nhưng khi nhìn thấy Cha Dan tỉnh bơ, quên cả việc chấm bài, tôi cố gắng trả lời Cha bằng câu hỏi: "Tại sao Cha lại mãi từ Ái Nhĩ Lan đến đây dạy Toán và Khoa học cho chúng con?".
- À Cha ấy hả! Đây là đời sống của Cha, Cha không có ý đến đây dạy học, nhưng đó là do ý Cha Bề trên của Cha. Nói thật cho con biết: Ngài gửi Cha đến đây để truyền giáo, nhưng trong suốt hai năm qua, Cha chưa bao giờ có thì giờ để nghĩ tới việc đó!
Sự tiết lộ này của Cha Dan làm tôi bối rối và sự thật thà của Cha tạo trong tôi một một mặc cảm rằng tôi đã thờ ơ với Cha. Lấy hết can đảm, tôi hỏi Cha một vấn đề đã mang nặng trong tâm tư tôi từ bao năm nay:
- Thưa Cha! Có phải Cha là một nhà Khoa học? Một người có cấp bằng Tiến sĩ về Khoa học?
- Con nói đúng! Và con cũng nên biết rằng phải mất một thời gian thật dài để đạt được cấp bằng đó.
- Vậy thưa Cha! Làm sao một nhà Khoa học như Cha lại có thể tin những chuyện như Thánh Kinh chẳng hạn, được viết ra bởi những người mơ mộng hão huyền, đặc biệt là Tân Ước được viết bởi những người đánh cá vô học?
- Lert à! Như con nói đó! Không những Cha tin Kinh Thánh mà còn tin từng chữ trong Kinh Thánh nữa! Con nói đúng, tác giả của Kinh Thánh là những người không hề biết về Lượng Giác Học, không biết về Hóa Học hay Hóa Học Hữu Cơ nhưng họ biết và sống chung với Chúa Giêsu. Hơn nữa, họ có ơn Chúa Thánh Thần, nếu không họ cũng chỉ giống như Cha với con thôi, có khi còn tệ hơn Cha với con nữa.
Tôi nói xuôi:
- Con vẫn không thể tưởng tượng được làm sao một nhà Khoa học như Cha lại có thể tin những chuyện như thế!
- Cha biết con đang phân vân và thắc mắc! Cha giải thích thế này: Con không cho rằng Cha dốt hơn con chứ gì? Và cũng chẳng ai trao cấp bằng Tiến sĩ Khoa học cho một người dốt nát. Con nói Kinh Thánh được viết do những người mơ mộng và thất học thế mà cả trăm triệu người như Cha vậy, có người còn giỏi hơn nữa kìa, họ đều tin và tin từ thế hệ này sang thế hệ khác. Bây giờ, như con chẳng hạn: thông minh và học thức, sao con không viết một vài cuốn sách như thế và con thử viết đi xem bao nhiêu người tin vào những điều con viết. Riêng Cha, Cha không tin những những sách con viết, vạn nhất, nếu Cha tin, Cha sẽ là một người dốt. Người tin là người dốt chứ người viết không phải là người dốt.
Với lý luận này, tôi bị dồn vào chân tường không lối thoát, để chấm dứt câu chuyện, tôi đứng lên kiếu từ: "Thưa Cha! Khuya quá rồi, con phải về phòng Cha ạ! Chúc Cha ngủ ngon! Chào Cha!" và tôi bước ra cửa.
Sự đuối lý và dại dột của tôi trong việc lý luận với một Linh mục Dòng Tên cho thấy rằng tôi không phải là "địch thủ" của Cha Dan. Tôi tự nhủ rằng đuối lý trong cuộc lý luận hôm ấy không có nghĩa là tôi đã bị thuyết phục hay tôi đã đầu hàng và tin tưởng: "Được rồi! Cứ coi như là Cha Dan đã thắng hiệp đầu đi! Còn hiệp hai, hiệp ba nữa cơ mà!".
Vào một buổi tối nọ, hiệp thứ hai cũng tình cờ xảy đến như hiệp thứ nhất, tôi không kịp chuẩn bị: Lại cũng là tại Toán học...
Một bài toán Hình học đã làm tôi loay hoay đến mãi nửa đêm mà vẫn không tìm được giải đáp. Tôi đi tìm Cha Dan, phòng Cha vẫn còn đèn sáng, tôi gõ cửa bước vào. Cha vẫn chăm chú chấm bài đến cuốn tập cuối cùng. Tôi đứng chờ bên cạnh. Khi đã xong, Cha đứng dậy: "Lert! Đi về phòng và lên giường ngủ, con lại vi phạm luật trường nữa rồi! Tất cả đèn đóm phải tắt hết lúc 10 giờ đêm!".
Tôi năn nỉ:
- Thưa Cha! Con không giải được bài toán này, và con lại sắp sửa phải thi môn này trong những ngày sắp tới...
- Ngày mai Cha sẽ giảng về bài này trong lớp học... nhưng thôi, ngồi xuống đây.
Ngồi xuống, tôi mở cuốn tập bài làm và chỉ cho Cha bài toán Hình học. Cha chỉ nhìn thoáng qua rồi nói với tôi:
- Lert à! Khả năng Toán của con khá lắm! Đừng lo lắng! Với trình độ của con con sẽ vượt xa các bài thi trong kỳ thi vào Đại Học sắp tới.
- Thưa Cha! Con đã xem qua một số đề thi! Riêng đối với bài toán này khó quá, con đã bỏ ra cả hai tiếng đồng hồ mà không giải được.
- Cha biết rồi Lert! Nhưng con đâu có thể giải được hết những khó khăn mà con có thể gặp.
- Thưa Cha, vâng! không phải tất cả con đều giải được!
- Lert à! Cha cũng vậy! Chẳng hạn như Cha trở thành một Linh mục để đi truyền giáo. Cha tình nguyện đến Trung Hoa để giảng đạo vì Cha tin rằng có cả triệu các linh hồn đang chờ Cha để Cha đưa họ đến với Chúa. Cha rất sung sướng khi được gửi tới đây. Nhưng như con biết đó, trong suốt ba năm qua, Cha chưa hề giúp được một linh hồn nào. Thay vào đó, Cha phải sửa chữa hàng ngàn, hàng vạn những bài làm của học sinh. Cha cũng chẳng hiểu tại sao!
Tôi cố gắng tìm một vài lý do để "an ủi" Cha, nhưng thấy rằng những lý do tôi có thể nghĩ được quá "yếu" nên tôi chẳng biết nói gì. Thấy tôi im lặng Cha mở ngăn kéo bàn, rút ra một miếng kẹo đậu phọng, chăm chú nhìn rồi trao cho tôi: "Ăn miếng kẹo đi Lert! Quá nửa đêm rồi, giờ này Cha không được phép ăn.".
Tôi bóc miếng kẹo đưa lên miệng, lí nhí cám ơn. Cha nhìn tôi hỏi: "Vấn đề gì trong đời sống mà con không giải đáp được Lert?"
Không kịp chuẩn bị, tự động trong trí tôi bật lên một vấn đề rồi vấn đề ấy tự động thoát ra miệng, tôi trả lời: "Đức Trinh Nữ Maria!".
Cha nhìn tôi ngạc nhiên rồi Cha lại kéo ngăn kéo lấy ra một miếng đậu phọng khác, nhìn với vẻ thèm thuồng nhưng Cha lại bỏ miếng kẹo trở lại ngăn kéo đóng lại.
- Đức Trinh Nữ Maria đã làm sao con?
- Không! Đức Trinh Nữ Maria không làm sao con cả, nhưng tại sao Cha lại gọi Maria là Trinh Nữ? Con không hiểu được!
- À! Đây là bài toán con không tìm được giải đáp! Dễ hơn bài toán Hình học nhiều Lert ạ! Con có thể tìm được giải đáp nhanh hơn một bài toán Hình học với những đường thẳng, tam giác, hình vuông, hình tròn... Nếu muốn, con hãy nghe và cố gắng hiểu hơn là tìm cách lý luận.
- Thưa Cha! Con không muốn lý luận, ngay cả lần trước đề cập đến vấn đề Thánh Kinh, con cũng không lý luận. Con hỏi chỉ vì con muốn biết.
Tôi đã không chuẩn bị về vấn đề vừa được đề cập. Với tôi, vấn đề Đức Trinh Nữ Maria đã đi vào quên lãng, không biết tại sao tôi lại hỏi nữa.
- Con nói đúng Lert à! Khuya quá rồi, không phải là lúc lý luận, ngay cả lý luận về vấn đề Trinh Nữ của Maria. Nhưng bởi vì con muốn tìm đáp số, cho nên Cha giúp con bây giờ. Chúng ta hãy quì xuống và đọc một kinh nguyện trước khi bắt đầu.
Cha Dan đứng lên và tôi như một phản ứng đứng dậy theo.
- Nhưng thưa Cha, con không cầu nguyện đâu!
Cha Dan gắt lên với tôi:
- Con có điên không? Một kinh nguyện không làm hại con đâu! Hơn nữa, làm sao một người có thể tìm hiểu về Chúa mà lại không có sự trợ lực của Chúa Thánh Thần...
Cha Dan quì xuống, làm dấu Thánh Giá và bắt đầu: "Lạy Chúa Thánh Thần xin hãy đến...."
Tôi cũng quì xuống nhưng chẳng biết cầu nguyện thế nào, tại sao cầu nguyện và cầu nguyện với ai. Tuy nhiên tôi cũng thì thầm: "Tôi không biết Chúa Thánh Thần là ai và nếu có Chúa Thánh Thần nào ở đâu đó có thể giúp tôi hiểu được về Đức Trinh Nữ Maria...".
Cha Dan đã cầu nguyện xong và đứng dậy. Tôi đứng dậy theo và cùng ngồi xuống:
- Lert! Chắc con đã biết người ta được tạo nên bình thường bằng cách nào rồi chứ?
- Thưa Cha vâng, con biết!
- Cha cũng nghĩ là con đã biết, cha con là Bác sĩ mà! Một tế bào giống đực, liên kết với một tế bào giống cái và đó là nguyên cớ tạo nên một con người. Câu hỏi kế tiếp đó là lấy tế bào giống đực và tế bào giống cái ở đâu để tạo nên con người đầu tiên? Con không trả lời được câu hỏi đó dĩ nhiên. Nếu con trả lời được, con giỏi hơn Cha vì Cha không trả lời được.
- Nhưng thưa Cha! Cái câu chuyện của ông Adong nào đó đâu có liên hệ gì đến Đức Trinh Nữ Maria?
- Lert! Có liên hệ chứ! Để giải thích, chúng ta phải biết bắt đầu từ đâu. Con không nghĩ tổ tiên của chúng ta là loài khỉ như Julian Huxley đã nói chứ? Nhưng cứ cho tổ tiên của Julian Huxley là loài khỉ đi, vậy con khỉ đầu tiên từ đâu xuất hiện? Ông ta giải thích con khỉ đầu tiên xuất hiện từ một con sứa một tế bào. Vậy ta có thể nói thủy tổ của con người là một con sứa, như thế con sứa một tế bào đầu tiên ấy từ đâu mà có. Thật là khôi hài nếu Huxley hay bất cứ người nào nói rằng con sứa này do cát biển sinh ra từ đáy biển.
Tôi không có một phản ứng nào. Cha Dan nói tiếp:
- Vậy chúng ta dù muốn dù không cũng phải trở lại với người đầu tiên xuất hiện trên trái đất: Ông Adong. Nếu con không thích tên Adong, chúng ta hãy gọi là "A" đi.
Cha Dan dừng lại, tôi vẫn không có ý kiến gì để nói, Cha lại tiếp tục:
- Bởi vì "A" phải được sinh ra do một người hay một sinh vật nào đó. Ta cứ gọi người hay sinh vật đó là "C" đi. Con biết đó! Giống như môn học Hình học, hãy vẽ một đường thẳng từ "C" tới "A"...
Tôi vẫn im lặng. Cha Dan lại tiếp:
- Tốt! Con nhất định không nói gì tối nay!
Tôi lên tiếng:
- Thưa Cha! Cha Pat dạy con môn luận lý học và tam đoạn luận. Con biết Cha sẽ lý luận rằng Chúa dựng nên con người. Nhưng điều con muốn biết là tại sao lại gọi Maria là Trinh Nữ cơ mà!
- Cha biết Cha Pat dạy con môn Anh Văn! Nhưng con biết và ai cũng tin rằng Thiên Chúa dựng nên con người.
- Thật là đáng buồn Cha ạ! Con không tin chuyện đó! Nhưng con không chống lại lý luận của Cha cho rằng "A" phải do "C" mà có.
- Bây giờ con chịu lên tiếng rồi đó! Tốt! Vậy nếu "C" là động lực đầu tiên và có thể là cuối cùng thì "C" phải tự mình mà có, không ai tạo ra "C" cả! Như thế, "C" là nguyên cớ tạo nên "A". Vậy theo con "C" là gì?
Tôi không nói được vì lý luận của Cha Dan quá vững chắc.
- Con không chống điều này và hình như con cũng không chấp nhận. Bây giờ nếu "C" sinh ra "A", sinh làm sao chúng ta không biết nhưng chắc chắn không do sự kết hợp giữa hai tế bào giống đực và giống cái. Vậy con có thể cho Cha biết "C" có thể tạo ra Chúa Giêsu Kitô cũng bằng cách đó không? Cách như thế nào chúng ta cũng không biết và như vậy, Đức Maria có thể được gọi là Trinh Nữ không?
Vài ngày sau đó, tôi đi thi. Như tôi đã lo sợ trước đó. Tôi rớt về Anh văn. Như thế là lại thêm một năm học dài đằng đẵng nữa tôi phải vượt qua với những bài toán, bài luận phải làm. Tuy nhiên dù sao học lại vẫn rảnh rỗi hơn.
Một buổi tối nọ rảnh rang, tôi nghĩ đến việc gặp Cha Dan nói chuyện chơi! Cha vẫn bận rộn như ngày nào, đang ngồi sửa chữa hàng đống tập vở.
- Thưa Cha! Con muốn giúp Cha sửa chữa những bài tập này...
- Chắc không được Lert à! Cha Hiệu trưởng sẽ nghĩ sao khi Ngài biết chuyện, nhưng vào đây ăn miếng kẹo đậu phụng!
Cha mở ngăn kéo lấy ra một miếng kẹo và tung đến cho tôi. Tôi nhận kẹo, vừa bước lui ra vừa nói:
- Con xin lỗi đã làm phiền Cha.
Cha Dan vội nói:
- Lert! Vào ngồi xuống đây! Con không đến làm phiền Cha về những vấn đề con không tìm được giải đáp đấy chứ? Cha chỉ còn khoảng 50 bài phải sửa chữa nữa thôi.
- Thưa Cha không, con chỉ tò mò về Thiên Chúa Ba Ngôi.
Một lần nữa, mọi việc lại cũng xảy ra như những lần trước, tôi chẳng chuẩn bị gì cả, tự nhiên thốt ra vậy thôi, trước khi tôi kịp nghĩ đến những điều tôi nói. Cha Dan đẩy những tập vở sang một bên quay lại phía tôi:
- Cũng lại vấn đề này! Thôi dẹp đi! Cha còn phải sửa bài vở nữa!
Tôi bật cười, nghĩ rằng một Linh mục Dòng Tên như Cha làm sao có thể dẹp nói về vấn đề Thần học được để loay hoay với những bài toán. Cũng giống như tôi không thể dừng lại được trước khi bật ra câu hỏi. Cha Dan cũng cười và chúng tôi lại đi vào vấn đề.
Chúng tôi đề cập đến Ba Ngôi Thiên Chúa, đến Bí tích Giải tội, đến việc Bất Khả Ngộ của Đức Giáo Hoàng, đến Bí Tích Mình Thánh Chúa và cuối cùng là Bí Tích Rửa Tội. Lúc vừa bắt đầu Bí Tích Giải Tội, đồng hồ thong thả gõ 2 tiếng.
Tôi hỏi Cha:
- Về vấn đề Rửa tội, Cha có nghĩ rằng cha mẹ con sẽ xuống hỏa ngục nếu họ không Rửa tội không?
- Làm sao họ xuống hỏa ngục được nếu họ đã có một đứa con như con! Cha không muốn nói con là Thánh cũng như Cha cũng chẳng phải là Thánh.
- Thế tại sao người này phải Rửa tội để được lên Thiên Đàng, trong khi người khác lại không cần Rửa tội cũng vẫn được lên?
- Lert à! Nếu Cha là Thiên Chúa, chắc chắn Cha sẽ trả lời cho con điều thắc mắc này, nhưng Cha không phải là Chúa! Được rồi, con cho Cha biết con có nghĩ rằng cha mẹ con sẽ xuống hỏa ngục không?
Tôi không trả lời được vì tôi không nghĩ ra được bất cứ một lý do nào khiến một người phải xuống hỏa ngục.
Cha Dan thấy tôi im lặng liền tiếp:
- Con chỉ là một người tầm thường mà con đã nghĩ được rằng việc cha mẹ con xuống hỏa ngục là một chuyện sai trong khi Chúa là nguyên ủy của công bình, con có nghĩ Chúa sẽ bất công với cha mẹ con không?
Rồi Cha Dan lại tiếp:
- Thôi được rồi cậu bé! Cậu thật là rắc rối! Giờ đây, thay vì thắc mắc về Thiên Chúa, hãy bỏ hết đi cho yên thân, hãy trở thành bạn hữu của Ngài. Nếu con trở thành bạn hữu của Chúa rồi, Cha cho con biết, Chúa sẽ soi sáng cho con, con không phải nửa đêm đến gõ cửa phòng Cha nữa. Thôi về phòng đi ngủ, gần sáng rồi.
Buổi học sáng hôm sau tôi không thể nào chống hai mắt lên nổi. Tôi ngủ gục trong giờ Khoa học, Cha Dan đến gõ lên đầu tôi đánh thức tôi dậy. Tôi lại ngủ gục trong giờ học Toán. Cha Dan có lẽ đã gọi tên tôi mấy lần nhưng tôi không nghe thấy, đứa bạn bên cạnh phải thúc vào cạnh sườn tôi, tôi mới thức giấc. Cha Dan gọi tôi lên cảnh cáo và phạt tôi phải ngồi lại trong Hội trường một tiếng đồng hồ sau giờ học.
Cha Dan phạt tôi là vô lý, Cha biết tôi đã cùng thức với Cha đến gần sáng và Cha phạt tôi chắc chắn là vì ghét tôi.
Chiều hôm đó, sau giờ học, tôi phải vào Hội trường một tiếng đồng hồ. Ngồi đó mà trí óc tôi bực tức nghĩ tới chuyện đối phó với Cha Dan. Tôi loay hoay tự hỏi: "Tại sao Cha Dan lại ghét tôi thế?". Nhưng tôi không trả lời được.
Cha Pat đi qua Hội trường, trông thấy tôi liền hỏi:
- Lert! Con làm gì ở đây giờ này?
- Thưa Cha! Con bị phạt vì con đã ngủ gục trong giờ học.
Ai phạt con vậy?
- Thưa Cha! Cha Dan.
Nói rồi tôi trao cho Cha Pat tờ giấy ghi phạt của Cha Dan. Cha Pat vò vụn tờ giấy trong tay nói: "Được rồi! Cha phụ trách Hội trường này, Cha cho phép con đi về... Nhưng hình như đêm rồi con nói chuyện với Cha Dan trong phòng tới gần sáng phải không?
Tôi bật khóc nức lên:
- Thưa Cha vâng, đến gần ba giờ sáng! Nhưng con sẽ ở đây cho đến hết giờ phạt.
Cha Pat nhìn tôi không hiểu. Nước mắt tôi rơi lã chã trên mặt bàn. Tôi tức quá! Cha Pat đã đi ra. Tôi thầm thì: "Chúa ơi! Với Cha Dan con đã không làm gì được thì làm sao con dám chống cự với Chúa... Thật sự, con đâu dám chống lại Chúa, con chỉ muốn tìm hiểu... Lạy Mẹ Maria! Mẹ của Thiên Chúa, xin giúp con cầu nguyện vì con không biết cầu nguyện...".
Xé một tờ giấy từ cuốn tập trong cặp sách, tôi viết thư cho cha tôi, nước mắt tôi vẫn còn tuôn chảy rơi rớt cả trên tờ thư.
Kính thăm Ba Má,
Con sắp Rửa tội theo Đạo Công Giáo. Con chỉ viết báo tin cha Ba má biết thôi về quyết định bất ngờ này. Đáng lẽ con phải viết thư xin phép Ba má nhưng con xin Ba má hiểu cho con là bằng mọi giá, dù Ba má có cho phép hay không, con cũng sẽ vào Đạo...
Có lẽ nãy giờ Cha Pat đứng ngoài theo dõi những cử chỉ của tôi. Cha bước vào cầm lấy lá thư tôi đang viết. Một lúc sau, Cha trao lại tờ thư cho tôi, Cha lắc đầu không tin vào mắt mình nữa và Cha không tin những dòng chữ Cha đã đọc. Trao tờ thư cho tôi Cha bước ra khỏi Hội trường.
Tôi viết xong lá thư, đề địa chỉ và ngồi chờ đến hết giờ phạt đứng dậy đi ra, thấy Cha Pat, tôi cúi chào Cha và đi thẳng.
Một tháng sau vào Chúa Nhật Phục Sinh, tôi được Rửa tội trong nhà thờ Chính Tòa và lãnh nhận Bí Tích Thêm Sức ngày lễ Chúa Giêsu Kitô Vua. Kỳ thi cuối năm đó tôi đậu môn Anh Văn một cách dễ dàng nhưng lại rớt môn Toán. Tiền bạc đã không mua cho tôi được văn bằng Bác Sĩ Y Khoa, nhưng tôi đã dùng nó để mua một thứ quí giá hơn nhiều, đó là Đức Tin của tôi vào Thiên Chúa.
... "Tôi là ai mà muốn tìm hiểu ý định của Thiên Chúa toàn năng, dám thắc mắc và dám đưa ý kiến cho Chúa nên làm việc này hay việc nọ cho tôi?"...
Thánh Luca đã viết trong Phúc âm của Ngài, chương 8 đoạn 18: "Anh em phải chú ý về cách thức nghe Lời Chúa: Vì những kẻ đã có lại được cho thêm, còn ai không có sẽ mất cả những cái kẻ ấy tưởng mình có!".
Cách nay gần hai ngàn năm, Chính Chúa Giêsu đã phán: "Ai có tai để nghe thì hãy nghe!". Tạ ơn Chúa vô vàn, qua hồng ân của Chúa, tôi đã nghe thấy tiếng Ngài.