Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Thủ Bản Giáo Luật - Các Dòng Tu, Tu Hội 30 - 34. Các nhân đức của một giáo sĩ
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Thủ Bản Giáo Luật - Các Dòng Tu, Tu Hội 30 - 34. Các nhân đức của một giáo sĩ
Document Actions

Thủ Bản Giáo Luật - Các Dòng Tu, Tu Hội

30 - 34. Các nhân đức của một giáo sĩ

  1. Giáo sĩ và sự thánh thiện.

Trong đời sống, giáo sĩ phải lo theo đuổi sự thánh thiện vì một lý do xét riêng, do việc lãnh thánh chức, họ được hiến thân cho Thiên Chúa với tước hiệu mới là những người phân phát mầu nhiệm của Thiên Chúa hầu phục vụ cho dân ngài. (Can 276§1)

Giả thiết là các giáo sĩ phải có một đời sống tốt lành thánh thiện hơn các tín hữu. Sự thánh thiện bắt nguồn từ Bí tích Truyền Chức Thánh họ đã lãnh nhận và sứ mạng thiêng liêng đã được trao phó cho họ trong Giáo hội. Sự thánh thiện xét ở đây thể hiện cách công bình trước mặt Chúa và dân Chúa. Đời sống của các giáo sĩ phải là tấm gương về sự thánh thiện cho các tín hữu.

 

  1. Giáo sĩ và sự trọn lành

Để có thể theo đuổi sự trọn lành ấy: (l) Trước hết họ hãy chu toàn mọi bổn phận của tác vụ một cách trung thành không biết mệt mỏi. (2) Họ hãy nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng bằng hai bàn tiệc của Kinh Thánh và Thánh thể; vì thế, các Tư Tế được khẩn khoản kêu mời hãy dâng Thánh Lễ mỗi ngày, và các Phó Tế hãy tham dự hiến lễ ấy hàng ngày. (3) Các Tư Tế và các Phó Tế đang chuẩn bị làm Linh Mục buộc mỗi ngày đọc Phụng vụ các giờ kinh theo sách phụng vụ riêng đã được phê chuẩn; còn các Phó Tế vĩnh viễn chỉ buộc đọc phần nào đã được Hội Đồng Giám Mục ấn định. (4) Họ cũng buộc tham dự các buổi tĩnh tâm theo qui định của luật địa phương. (5) Họ nên suy gẫm thường xuyên, năng đi xưng tội, sùng kính Đức Trinh Nữ Mẹ Thiên Chúa, thi hành các phương tiện thánh hóa chung hay riêng khác. (Can 276§2)

Bộ Giáo luật 1917 yêu cầu các Giám Mục săn sóc về phần thiêng liêng của giáo sĩ thuộc quyền. Bộ luật hiện hành ban những qui định trực tiếp cho các giáo sĩ, nhắc nhở việc chăm lo đời sống thiêng liêng cá nhân của họ hướng về sự thánh thiện trong sứ mạng của giáo sĩ.

 

  1. Giáo sĩ và sự vâng phục

Các giáo sĩ có nghĩa vụ đặc biệt là phải tỏ lòng kính trọng và vâng lời Đức Thánh Cha và Bản Quyền riêng (Can 273). Các giáo sĩ, nếu không có một ngăn trở hợp lệ duyệt chính, phải lãnh nhận và trung thành chu toàn nhiệm vụ được Bản Quyền mình giao phó (Can 274§2). Xét vì tất cả các giáo sĩ đều đồng lao trong cùng một công tác, tức là việc xây dựng Thân thể Đức Kitô, nên họ hãy liên kết với nhau trong mối dây huynh đệ và sự cầu nguyện, cổ võ sự cộng tác với nhau theo các qui định của luật địa phương (Can 275§1)

Vâng lời và kính trọng thể hiện qua cử chỉ, lời nói và cách sống. Đặc biệt qua việc chấp nhận sứ vụ được giao phó và chu toàn sứ vụ ấy. Khi gặp những khó khăn, hãy khiêm nhường trình bày với bề trên để được thông cảm và nâng đỡ. Cho những giáo sĩ nào, sau khi đã được nhắc nhở, cảnh cáo về việc vi phạm lòng tuân phục với Đức Thánh Cha mà vẫn còn ngoan cố, sẽ bị chế tài theo luật: “Sẽ bị hình phạt xứng đáng: (1) kẻ nào giảng dạy một học thuyết đã bị Đức Thánh Cha hay Công Đồng Hoàn Vũ kết án, hay ngoan cố loại bỏ một giáo thuyết như nói ở điều 752, và dù đã bị Tòa Thánh hay Bản Quyền cảnh cáo, cũng không rút lại; (2) kẻ nào, bằng cách khác, không vâng phục Tòa Thánh, Bản Quyền hay Bề Trên khi họ truyền lệnh hay ngăn cấm hợp lệ và, sau khi bị cảnh cáo, vẫn ngoan cố không vâng phục. (Can 1371)

Điều 1373 qui định thêm về việc bất tuân Tòa Thánh: “Ai công khai kích thích những người thuộc quyền mình chống đối và thù hận đối với Tòa Thánh hay Bản Quyền vì một hành vi của quyền bính hay của giáo vụ, hoặc xúi giục người thuộc quyền bất tuân các Ngài, sẽ bị phạt cấm chế hay những hình phạt xứng đáng khác. (Can 1373)

 

  1. Giáo sĩ và sự khiết tịnh

Các giáo sĩ cần phải giữ sự khiết tịnh hoàn toàn và trọn đời vì nước Trời vì vậy họ phải ở độc thân là một ơn đặc biệt của Thiên Chúa, nhờ đó các thừa tác viên thánh có thể gắn bó với Đức Kitô dễ dàng hơn với một con tim không chia sẻ và được thong dong hơn để hiến thân phục vụ Thiên Chúa và nhân loại. Các giáo sĩ phải khôn ngoan khi giao tiếp với những người mà sự năng lui tới với họ có thể gây nguy hại cho việc giữ sự khiết tịnh hoặc sinh ra gương xấu cho giáo hữu. Giám Mục giáo phận có thẩm quyền ra những qui luật cụ thể hơn trong vấn đề này và xét định trong việc tuân hành trong những trường hợp riêng biệt (Can 277)

Sắc Lệnh Chức vụ và Đời sống Linh mục (Prebyterorum Ordinis) số 16 viết: “Sự chế dục hoàn toàn và vĩnh viễn vì nước Trời đã được Chúa Kitô khuyến khích, qua các thời đại và cả ngày nay vẫn còn được một số đông các Kitô hữu sẵn lòng chấp nhận và tuân giữ một cách đáng khâm phục, nên vẫn luôn được Giáo Hội hết sức quí trọng trong đời sống Linh mục. Thực vậy, nó vừa là dấu chứng vừa là niềm khích lệ đức bác ái mục vụ và là nguồn mạch đặc biệt làm phát sinh đời sống thiêng liêng phong phú trên thế giới.”. Sắc Lệnh về Đào Tạo Linh mục (Optatam Ordinis) số 10 viết thêm: “Các chủng sinh theo đuổi truyền thống đáng kính mà sống bậc độc thân linh mục đúng với qui luật thánh thiện bề bỉ của lễ chế mình, phải được cẩn thận hướng dẫn sống bậc sống ấy.”. Năm 1967, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI cũng dùng cùng một thứ ngôn ngữ ấy trong Tông thư Sacerdotis Coelibatus.

Khiết tịnh trong đời sống giáo sĩ gồm hai khía cạnh: hoàn toàn và trọn đời. Sự khiết tịnh thể hiện được coi như ngược lại với đời sống hôn nhân.

Các biện pháp chế tài áp đặt trên các giáo sĩ lỗi phạm nghịch với điều răn thứ sáu được qui định trong các điều luật như sau: “Giáo sĩ toan tính kết hôn, mặc dù chỉ là theo nghi thức dân sự, sẽ mắc vạ huyền chức tiền kết. Nếu sau khi bị cảnh cáo mà không hối cải và vẫn tiếp tục gây gương xấu, có thể bị phạt bằng những sự tước đoạt quyền lợi từ từ, kể cả sự khai trừ khỏi hàng giáo sĩ.” (Can 1394,§1). “Một giáo sĩ tư tình, hay một giáo sĩ thường xuyên ở trong tội nghịch giới răn thứ sáu và gây gương xấu, sẽ bị phạt huyền chức. Và nếu sau khi bị cảnh cáo mà còn tiếp tục lỗi phạm, có thể bị phạt thêm những hình phạt khác nữa cho đến nặng nhất là khai trừ khỏi hàng giáo sĩ. Giáo sĩ vi phạm cách nào khác nghịch giới răn thứ sáu, nếu đã phạm tội bằng bạo hành, hay ngăm đe, hoặc cách công khai hoặc với một vị thành niên dưới mười sáu tuổi, sẽ bị phạt những hình phạt xứng đáng, kể cả sự khai trừ khỏi hàng giáo sĩ, nếu hoàn cảnh đòi hỏi.” (Can. 1395).

Ngày xưa, người ta thường quan niệm tội lỗi nghịch với giới răn thứ sáu qua những quan hệ giữa những người khác phái tính. Nhưng ngày nay, trong thời đại chúng ta đang sống, giáo luật lưu ý, đề cập ngay cả đến những đồng phạm cùng phái tính nữa.

 

  1. Giáo sĩ và khó nghèo

“Các giáo sĩ nên sống đời sống giản dị và xa tránh tất cả những gì có vẻ phù hoa. Những tài sản mà họ có được trong khi thi hành một chức vụ giáo hội thì sau khi đã dự trù cho việc chu cấp xứng đáng và thi hành chức vụ khác của bậc mình nên được dành phần dư cho thiện ích của Giáo Hội và những công cuộc bác ái.” (Can. 282)

by frjoe — last modified 2007-07-17 00:22

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.