Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần VI: Các Giáo sĩ (3 tiểu mục, 27-29)
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần VI: Các Giáo sĩ (3 tiểu mục, 27-29)
Document Actions

Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng

Phần VI: Các Giáo sĩ (3 tiểu mục, 27-29)

 27.- CÁC GIÁO SĨ

 Các giáo sĩ là những tín hữu đã được trao ban chức Thánh một cách hữu hiệu và hợp lệ theo qui tắc luật định. Luật cũ gọi là giáo sĩ những người đã chịu phép cắt tóc. Nhưng sau Công Đồng Vaticano II, Đức Giáo Hoàng Phaolô VI đã chỉnh đốn lại các chức nhỏ trong  Tự Sắc "Ministeria Quaedam" (15/8/1972) , và quyết định chỉ những người đã lãnh nhận chức Phó Tế mới được coi là giáo sĩ. Qua Tự Sắc này, các chức nhỏ và chức Phụ Phó tế bị bãi bỏ.

Thay vào đó, Giáo Hội Latin chỉ còn hai thừa tác vụ: Thừa Tác Vụ Đọc Sách và Thừa Tác Vụ Giúp Lễ, nhưng những người lãnh nhận hai thừa tác vụ này không được coi là giáo sĩ.  Các giáo sĩ được đặt lên để đảm nhận những công tác cơ yếu của Giáo Hội (giảng dạy, ban Bí tích, Quản trị...), song họ không độc quyền cáng đáng tất cả các công tác trong Giáo Hội. Các giáo sĩ cần được sự trợ lực của các giáo dân để lo việc chung của Giáo Hội.

 

 28.- SỰ ĐÀO TẠO GIÁO SĨ

 "Giáo Hội có nghĩa vụ và quyền lợi riêng biệt và độc hữu đào tạo các người được trạch cử vào tác vụ thánh.". (Can.232)

 "Toàn thể cộng đoàn Kitô giáo có nghĩa vụ cổ động ơn gọi, hầu cung cấp đầy đủ cho nhu cầu các tác vụ thánh trong toàn thể Giáo Hội. Nghĩa vụ này bó buộc cách riêng các gia đình Công Giáo, các nhà giáo dục, đặc biệt là các Linh mục, nhất là các Cha Sở.  Các Giám Mục giáo phận, những người phải lo cổ động ơn gọi hơn ai hết, hãy dạy cho dân đã được giao phó cho mình về sự cao trọng của tác vụ thánh và sự cần thiết của các thừa tác viên có chức thánh trong Giáo Hội; các vị hãy phát động và nâng đỡ các sáng kiến cổ động ơn gọi, nhất là qua các cơ sở đã được thành lập nhằm mục tiêu ấy.

 Ngoài ra, các Linh mục, nhất là các Giám Mục giáo phận phải để tâm lo cho những người đã đứng tuổi và cảm thấy được gọi vào tác vụ thánh, sao cho những người ấy được giúp đỡ khôn khéo bằng lời nói và bằng hành động, và được chuẩn bị xứng đáng.". (Can.233)

 A.- Các Tiểu Chủng viện:

 "Ở đâu đã có, thì hãy duy trì và cổ động các Tiểu chủng viện hay các tổ chức tương tự nhằm cổ võ ơn gọi qua việc đào tạo đạo đức riêng biệt cũng như giáo dục về nhân bản và khoa học.  Thậm chí, ở đâu các Giám Mục giáo phận xét thấy lợi, thì nên tiến tới việc thành lập Tiểu chủng viện hoặc một học hiệu tương tự.

 Ngoại trừ những trường hợp cụ thể đòi hỏi phải làm cách khác, các thanh thiếu niên ước muốn tiến lên chức Linh mục cần được hấp thụ một nền giáo dục nhân bản và khoa học, tương tự với thanh thiếu niên chuẩn bị vào cấp học cao đẳng tại địa phương mình.". (Can.234)

 B.- Các Đại Chủng viện:

 "Khi có thể được và xét thấy thuận lợi, trong mỗi giáo phận nên có một Đại Chủng viện; nếu không, các ứng sinh chuẩn bị tác vụ thánh sẽ được gửi trong các Chủng viện khác, hoặc sẽ thành lập một Chủng viện liên giáo phận. Chủng viện liên giáo phận chỉ được thành lập do Hội Đồng Giám Mục-nếu là Chủng viện cho toàn thể lãnh thổ, hoặc do các Giám Mục liên hệ-nếu không dành cho toàn lãnh thổ, sau khi đã được Tòa Thánh phê chuẩn cả về việc thành lập cũng như về quy chế của chính chủng viện.". (Can.237).

 Các thanh niên ước muốn tiến lên chức Linh mục phải được hấp thụ sự huấn luyện về mặt thiêng liêng thích hợp và về các chức vụ riêng trong Đại chủng viện trong suốt thời gian huấn luyện, hoặc ít là trong bốn năm, nếu hoàn cảnh đòi hỏi như vậy theo nhận định của Giám Mục.

 Những ai được trọ ở ngoài chủng viện cách hợp pháp, thì Giám Mục giáo phận cần cử một Linh mục đạo đức có khả năng để phụ trách họ được huấn luyện kỹ lưỡng về đời sống đạo đức và về kỷ luật.". (Can.235).

 "Trong mỗi Chủng viện cần có một Giám Đốc đứng đầu, và nếu cần, một Phó Giám Đốc, một Quản Lý và, nếu các chủng sinh theo học ở trong chính Chủng viện thì cả các giáo sư dạy các môn học khác nhau theo một chương trình được sắp xếp quy củ.

 Trong mỗi Chủng viện, ít ra phải có một Cha Linh hướng. Tuy nhiên, các chủng sinh được tự do lui tới với các Linh mục khác đã được Giám Mục trạch cử vào trách vụ đó.

 Trong nội quy của Chủng viện, cần ấn định phương thức, nhờ đó các vị điều hành khác, các giáo sư và ngay cả chính các chủng sinh đều có thể chia sẻ trách nhiệm với Giám Đốc, nhất là trong việc duy trì kỷ luật.". (Can.239)

 "Ngoài các Cha giải tội thường xuyên, các Cha giải tội khác nên tới Chủng viện cách đều đặn; và trong khuôn khổ kỷ luật của Chủng viện, các chủng sinh luôn có thể đến với bất cứ Cha giải tội nào ở trong hoặc ở ngoài Chủng viện.

 Khi phải quyết định về việc chấp nhận các ứng sinh tiến chức hoặc là thải hồi họ ra khỏi Chủng viện, không bao giờ được hỏi ý kiến của cha Linh hướng và của các Cha giải tội.". (Can.240). 

 "Giám Mục Giáo phận chỉ nên thâu nhận vào Đại chủng viện  những người nào xét theo các đức tính nhân bản và luân lý, đạo hạnh và trí tuệ, sức khoẻ thể lý và tâm lý cùng ý muốn ngay thẳng của họ, được coi là có đủ khả năng hiến thân trọn đời cho các tác vụ thánh.

 Trước khi được thâu nhận, họ phải xuất trình chứng thư Rửa Tội và Thêm Sức, cũng như các văn kiện khác theo sự đòi hỏi của chương trình đào tạo Linh mục. Khi muốn thâu nhận các chủng sinh đã bị sa thải bởi một Chủng viện khác hoặc bởi một Dòng tu, thì còn cần thêm chứng thư của Bề trên liên hệ, nhất là về lý do của sự sa thải hoặc sự rời bỏ.". (Can.241).  

 "Trong mỗi quốc gia, cần có chương trình đào tạo Linh mục do Hội Đồng Giám Mục soạn thảo, căn cứ trên qui tắc do thẩm quyền tối cao của Giáo Hội ấn định, và được Tòa Thánh phê chuẩn. Chương trình ấy cần được thích nghi cho hợp với hoàn cảnh mới, với sự phê chuẩn của Tòa Thánh. Trong chương trình đào tạo cần phải xác định những nguyên tắc chính yếu về việc đào tạo trong Chủng viện và những nguyên tắc tổng quát được thích nghi với nhu cầu mục vụ của từng miền hoặc từng tỉnh. (xem c.242)

 "Nhờ sự đào tạo về đạo đức, các chủng sinh trở thành những người đủ khả năng thi hành sứ mệnh mục vụ với kết quả phong phú và được huấn luyện về tinh thần truyền giáo, biết thâm trí rằng sự luôn luôn chu toàn chức vụ với niềm tin sống động và đức ái sẽ giúp họ thánh hóa bản thân. Ngoài ra các chủng sinh hãy vun trồng những đức tính nhân bản cần thiết cho sự sống trong xã hội, sao cho họ biết dung hòa với những giá trị nhân bản với giá trị siêu nhiên.

 Các chủng sinh cần được đào luyện để có lòng yêu mến Giáo Hội của Đức Kitô, kết hợp với Đức Thánh Cha, Người kế vị Thánh Phêrô, với tấm lòng khiêm nhượng và thảo hiếu, gắn bó với Giám Mục riêng của mình như những người cộng sự trung thành và biết kết hợp với anh em đồng nghiệp. Nhờ sự sống chung trong Chủng viện và nhờ sự liên lạc bằng hữu với các bạn đồng môn, họ được chuẩn bị cho có tinh thần hợp nhất huynh đệ với các Linh mục đoàn trong giáo phận mà họ sẽ là thành phần nhằm phục vụ Giáo Hội.". (Can.245).

 "Việc cử hành thánh lễ phải là trọng tâm cho cả đời sống của Chủng viện, nhờ vậy mà hàng ngày khi thông hiệp vào tình bác ái của Đức Kitô, các chủng sinh múc lấy từ nguồn suối phong phú này, sức mạnh cho công việc tông đồ và cho đời sống đạo đức của họ.

 Họ cần được tập luyện cử hành phụng vụ các giờ kinh, nhờ đó các thừa tác viên của Thiên Chúa, nhân danh Giáo Hội, cầu khẩn Thiên Chúa cho toàn dân đã giao phó cho họ và cho toàn thể thế giới nữa.

 Họ hãy được khuyến khích tôn kính Đức Trinh Nữ Maria kể cả việc lần hạt Mân côi, việc tâm nguyện và đạo đức khác, nhờ đó các chủng sinh thủ đắc tinh thần cầu nguyện và được vững tâm bước theo ơn gọi.

 Các chủng sinh hãy năng xưng tội thường xuyên; ngoài ra nên khuyến khích mỗi chủng sinh hãy có một Cha linh hướng do mình lựa chọn và có thể tin cậy cởi mở lương tâm với người.

 Hằng năm, các chủng sinh phải lo tĩnh tâm.". (Can.246).

 "Nhờ sự giáo dục thích hợp, các chủng sinh cần được sống bậc độc thân và cần học hỏi để được quý trọng nó như một hồng ân đặc biệt của Thiên Chúa.

 Các chủng sinh cần phải ý thức rõ rệt về mọi bổn phận và gánh nặng dành cho các thừa tác viên có chức thánh của Giáo Hội, không nên giấu diếm gì về những khó khăn của đời sống Linh mục.". (Can.247).

 "Sự đào tạo về luân lý nhằm giúp cho các chủng sinh thâu đạt, cùng với nền văn hóa tổng quát thích ứng với các nhu cầu của mỗi nơi, mỗi thời, một nền đạo lý sâu rộng và chắc chắn về các môn học thánh, để khi Đức Tin đã đặt nền tảng và được nuôi dưỡng bởi môn đó, các chủng sinh có thể loan truyền đạo lý Phúc Âm cách thích hợp cho những người thời đại của mình, hợp với tâm trạng của họ. ". (Can.248).

 "Các môn Triết học và Thần học trong một chủng viện có thể được dạy kế tiếp nhau hoặc đồng thời với nhau tùy theo chương trình đào tạo Linh mục. Hai khoa học ấy phải được bao trùm ít nhất là sáu năm trọn: hai năm dành cho Triết học và bốn năm dành cho Thần học.". (Can.250).

 C.- Chức Phó tế vĩnh viễn:

 "Các ứng viên lên chức Phó tế vĩnh viễn cần được huấn luyện để nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng và để chu toàn bổn phận riêng của chức thánh, tùy theo qui định của Hội Đồng Giám Mục.

 Các ứng viên trẻ tuổi phải qua thời gian đào tạo ít nhất là ba năm tại một nhà riêng biệt, trừ khi Giám Mục giáo phận ấn định cách khác vì lý do  trầm trọng.

 Các ứng viên lớn tuổi, độc thân hay đã kết bạn, phải theo chương trình kéo dài ba năm do Hội Đồng Giám Mục ấn định.". (Can.236).

 

 29.- NHẬP TỊCH GIÁO SĨ

 "Bất cứ giáo sĩ nào cũng phải nhập tịch hoặc vào một Giáo Hội địa phương hay vào một phủ Giám Chức tòng nhân hoặc vào một Dòng tu nào hoặc một Tu đoàn hưởng năng quyền ấy; bởi đó, không chấp nhận các giáo sĩ không có Bề trên hoặc lang thang.". (Can.265).

 Do việc lãnh chức Phó tế, một người trở thành giáo sĩ và được nhập tịch vào Giáo Hội địa phương hoặc một phủ Giám Chức tòng nhân mà họ được tiến chức để phục vụ.  Một phần tử đã khấn trọn đời trong một Dòng tu hoặc đã gia nhập vĩnh viễn vào một Tu đoàn tông đồ giáo sĩ, khi lãnh chức Phó tế thì sẽ nhập tịch như một giáo sĩ vào Dòng tu hay vào Tu đoàn ấy, chỉ trừ khi Tu đoàn có hiến pháp qui định cách khác.

 Một phần tử của một Tu Hội đời, khi đã chịu chức Phó tế sẽ nhập tịch vào Giáo Hội địa phương nơi họ được tiến cử để phục vụ, trừ khi được Tòa Thánh chuẩn nhượng cho nhập tịch vào chính tu Hội.". (Can.266).

 "Để một giáo sĩ đã nhập tịch, được nhập tịch hữu hiệu vào một Giáo Hội địa phương khác, cần phải có văn thư xuất tịch do chính Giám Mục giáo phận ký nhận và đồng thời phải có văn thư nhập tịch, được ký nhận bởi Giám Mục giáo phận của Giáo Hội tại địa phương, nơi mà giáo sĩ ước muốn nhập tịch.  Sự xuất tịch được cấp, chỉ có hiệu lực kể từ khi thủ đắc sự nhập tịch vào Giáo Hội địa phương khác.". (Can.267).

 "Giáo sĩ nào đã được thuyên chuyển hợp lệ từ Giáo Hội địa phương riêng của mình, qua một Giáo Hội địa phương khác, thì sau năm năm chẵn, sẽ được nhập tịch do luật định vào Giáo Hội địa phương này, nếu đương sự viết đơn tỏ ý muốn của mình với Giám Mục giáo phận đã đón tiếp mình và không ai trong hai người thông báo sự phản kháng bằng giấy tờ trong thời gian bốn tháng kể từ ngày nhận đơn.

 Giáo sĩ nào đã được nhập tịch vào một Dòng tu hoặc Tu đoàn tông đồ theo điều 266,2 thì được kể là sẽ xuất tịch khỏi Giáo Hội địa phương riêng của mình do việc thu nhận trọn đời hay vĩnh viễn vào Dòng tu hay Tu đoàn.". (Can.268).

 "Giám Mục giáo phận chỉ nên tiến hành việc nhập tịch của một giáo sĩ khi:

 1. Nhu cầu ích lợi của Giáo Hội địa phương của ngài đòi hỏi, và tuân hành các luật lệ liên quan tới việc chu cấp xứng hợp cho giáo sĩ.

 2. Chắc chắn đã có văn kiện hợp lệ cho phép xuất tịch, và hơn nữa, đã được Giám Mục giáo phận cho xuất tịch cung cấp những tin tức cần thiết cách bí mật nếu thấy là cần, về đời sống, tư cách và học lực của giáo sĩ.

 3. Giáo sĩ đã tuyên bố, bằng giấy tờ cho Giám Mục giáo phận rằng mình muốn hiến thân phục vụ Giáo Hội địa phương mới đứng như luật định.". (Can.269)

 "Sự xuất tịch chỉ có thể ban cấp cách hợp pháp khi có lý do chính đáng, chẳng hạn như lợi ích của Giáo Hội hoặc một điều tốt cho chính giáo sĩ. Sự xuất tịch không thể bị khước từ nếu không có lý do quan trọng. Tuy nhiên, giáo sĩ nào khi cảm thấy mình bị thiệt thòi và đã tìm được một Giám Mục đón nhận, thì có thể thượng tố phản kháng quyết định khước từ.". (Can.270).

 "Ngoài trường hợp thật cần thiết cho Giáo Hội địa phương riêng, Giám Mục giáo phận không nên khước từ sự thuyên chuyển cho các giáo sĩ mà ngài biết là họ sẵn sàng và đủ khả năng, để làm việc những nơi khan hiếm trầm trọng giáo sĩ, ngõ hầu họ thi hành tác vụ thánh ở đó. Tuy nhiên, Giám Mục nên dự liệu qua một hợp đồng với Giám Mục giáo phận tại nơi mà họ sẽ đến để các quyền lợi và bổn phận của các giáo sĩ ấy được xác định.

 Giám Mục giáo phận có thể cho phép các giáo sĩ của mình tới một Giáo Hội địa phương khác trong thời gian nhất định, tuy có thể triển hạn nhiều lần, nhờ đó các giáo sĩ vẫn tiếp tục nhập tịch tại địa phương riêng của mình, và khi trở về họ vẫn được hưởng mọi quyền lợi, dường như họ đã phục vụ với tư cách thừa tác viên có chức thánh tại đây.

 Giáo sĩ đã thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương khác cách hợp lệ song vẫn giữ sự nhập tịch trong Giáo Hội gốc, thì có thể bị Giám Mục giáo phận triệu hồi khi có lý do chính đáng, miễn là phải tôn trọng hợp đồng đã thỏa thuận với Giám Mục kia cũng như sự công bình tự nhiên. Cũng vậy, miễn là tuân giữ mọi điều kiện trên, Giám Mục giáo phận của địa phương khác, khi có lý do chính đáng có thể khước từ sự cho phép giáo sĩ lưu lại trong lãnh thổ của mình.". (Can.271)

 "Giám Quản giáo phận không được cho phép xuất tịch hoặc nhập tịch, cũng không được cho phép thuyên chuyển qua một Giáo Hội địa phương nào khác, chỉ trừ khi Tòa Giám Mục trống ngôi đã quá một năm và có sự đồng ý của Hội Đồng Tư Vấn. ". Can.272).

by frjoe — last modified 2007-01-20 01:58

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.