Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần I: Luật Giáo Hội (14 tiểu mục, 1-14)
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần I: Luật Giáo Hội (14 tiểu mục, 1-14)
Document Actions

Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng

Phần I: Luật Giáo Hội (14 tiểu mục, 1-14)

 

1.- ĐỊNH NGHĨA LUẬT.

Thánh Tôma Aquina định nghĩa luật như sau: “Luật pháp là những qui định của lý trí nhằm công ích, được ban hành do người điều khiển cộng đồng. “Quaedam rationis ordiratio ad bonum commune, et ad eo qui curam communitatis habet promulgata”. (cf.Summa Theologia IAIIae, 90A.)

Luật lệ không phải là những lời khuyên hay những lời nhắn nhủ, nhưng là những mệnh lệnh xuất phát từ người điều khiển cộng đồng. Tuy nhiên, những mệnh lệnh này phải có tính cách hợp lý với chủ đích duy trì trật tự cho cộng đồng.

Một mệnh lệnh thực sự trở thành một luật lệ khi được người điều khiển cộng đồng ban hành (Ban hành là một hành vi nhằm công bố cho mọi người biết đến một sự việc nào đó). Không một mệnh lệnh nào có thể trở thành luật lệ được, nếu mọi người không biết đến qua việc ban hành.

 

2.- GIÁO LUẬT VÀ LUẬT GIÁO HỘI.

Hai tiếng “Giáo Luật” trong Hán-Việt được dùng cách vắn tắt để chỉ Luật của Giáo Hội. Đôi khi gọi nôm na là Luật Đạo.

Thoạt tiên, tiếng “Giáo Luật” được dùng để đối chiếu với “Dân Luật” hay “Luật Dân sự” hay “Luật Đời”. Một bên là luật của nhà nước nhằm điều hành các mối tương quan trong quốc gia; một bên là luật của Giáo Hội nhằm điều hành các mối tương quan trong nội bộ Giáo-Hội.

Tuy nhiên, xét về nguồn gốc, ta thấy không phải tất cả các điều giáo luật đều phát xuất từ các nhà cầm quyền trong Giáo Hội. Thật vậy, trong Bộ Giáo Luật, người ta có thể tìm thấy các điều Thiên Luật (Luật của Chúa), và Nhân Luật (luật của loài người: Giáo-Hội).

Giáo Hội tuy có cơ cấu tổ chức hữu hình trần thế như một xã hội trần gian, nhưng Giáo Hội có nguồn gốc và cứu cánh siêu việt.

Giáo Hội là một tổ chức gồm bởi loài người (Các Đức Giáo Hoàng, các Giám Mục, các Linh Mục, Tu sĩ, Giáo dân...) nhưng do Thiên Chúa thiết lập, nhằm đưa con người đến hạnh phúc vĩnh cửu. Khi thiết lập Giáo Hội, Chúa Giêsu đã ấn định một số những qui luật nền tảng hầu giúp cho Giáo-Hội đạt được sứ mạng của mình như Sách Kinh Thánh, các Bí-Tích, hàng Phẩm trật của Giáo-Hội.... Chúng ta gọi đó là Thiên Luật vì những luật lệ này không do con người đặt ra nhưng do chính Thiên-Chúa ấn-định qua Chúa Giêsu. Từ nền tảng ấy, Giáo-Hội đặt ra thêm những qui luật khác, những qui luật này được gọi là Nhân luật, nhằm đến những biện pháp hữu hiệu tùy thời và tùy nơi giúp cho mọi tín-hữu đạt được cứu cánh Thiên-Chúa đã đề ra cho Giáo-Hội.

Thiên luật không bao giờ được phép sửa đổi. Nhân luật có thể được sửa đổi tùy theo thời đại và sựï khôn ngoan của Giáo Hội.

Để duy trì việc tuân hành luật pháp trong một quốc gia, chính quyền xử dụng luật lệ với những hăm dọa, cưỡng bách và trừng phạt; Trái lại, trong Giáo Hội, luật pháp đóng vai trò khiêm tốn hơn: Để đạt tới mục tiêu của mình, Giáo Hội dùng lời giảng dạy, khuyên bảo, đôi khi van lơn ... Ngoài việc lo duy-trì trật tự, công-bình giữa các phần tử trong cộng đoàn, Giáo-Hội còn cổ võ yêu thương và bác ái. Luật tối cao của Giáo-Hội không phải chỉ là công bằng, nhưng là yêu thương.

Có thể phân biệt từ ngữ như sau:

- Giáo Luật (Ius Canonicum): là tất cả những luật lệ có tính cách bó buộc trong Giáo Hội, dù là luật của Chúa hay của các nhà cầm quyền Giáo Hội.

- Luật Giáo Hội (Lex Ecclesiasticus): là những luật lệ do quyền hành Giáo Hội đặt ra. Phạm vi Luật Giáo Hội hẹp hơn Giáo Luật vì Giáo Luật còn bao gồm cả các luật do Thiên Chúa, do các Thánh Tông đồ nữa.

 

3.- QUYỀN LẬP PHÁP TRONG GIÁO HỘI.

Những ai có quyền đặt ra luật lệ trong Giáo Hội?

a. Đức Thánh Cha: Trong vai trò Đại Diện Chúa Kitô trên trần gian; Người kế vị Thánh Phêrô; Thủ lãnh của Giám Mục Đoàn; Chủ Chăn của Giáo Hội hoàn vũ, Đức Thánh Cha có quyền đặt ra luật lệ cho toàn thể Giáo Hội. (xem c.331)

b. Giám Mục Đoàn: Khi hiệp thông và với sự hiện diện của Vị Thủ lãnh (Đức Thánh Cha) Giám Mục Đoàn có quyền đặt ra luật lệ cho Giáo Hội hoàn vũ, như trong trường hợp của các Công Đồng Chung. Nếu thiếu sự hiệp thông và hiện diện của Vị Thủ Lãnh, Giám Mục Đoàn không có quyền đặt ra luật lệ. (xem c.336)

c. Công Đồng Địa phương: Theo nhu cầu mục vụ với các chủ đích: Tăng cường Đức Tin; Hoạt động truyền giáo; Duy trì và phát triển luân lý; Bênh vực giáo huấn của Giáo Hội. Các Giám Mục trong cùng một miền có thể triệu tập Công Đồng để đặt ra luật lệ, các luật lệ này trước khi ban hành phải được Tòa Thánh duyệt y và chỉ có giá-trị trong phạm vi miền đó. (xem c.445; c.446)

d. Hội Đồng Giám Mục: Hội Đồng Giám Mục chỉ có thể ra sắc luật trong những trường hợp mà luật chung đã qui định, hoặc một ủy nhiệm đặc biệt của Tòa Thánh đã tự ý ấn định, hoặc theo lời thỉnh cầu của chính Hội Đồng Giám Mục ấy. Các sắc luật chỉ có hiệu lực bó buộc khi được ban-hành hợp lệ sau khi đã được Tòa Thánh duyệt y. (xem c.455)

e. Giám Mục Giáo Phận: Trong công nghị giáo phận, Giám Mục là nhà lập pháp duy nhất, các thành viên khác chỉ có quyền tư vấn. Duy có Giám Mục ký nhận mọi tuyên ngôn và mọi quyết nghị của công nghị, và ban hành chúng với quyền hành của Ngài.(Can.466).

Năng quyền này cũng được hành sử do các Vị tương đương với Giám Mục Giáo Phận: Các Giám Hạt tòng thổ; Các Đan Viện Phụ tòng thổ; Các Đại Diện Tông Tòa; Các Phủ Doãn Tông Tòa; Các Giám Quản Tông Tòa.Các Giám Mục Phó và các Giám Mục Phụ Tá cộng tác với các Giám Mục Giáo phận trong công việc điều hành giáo phận (xem c.403) và thay thế Giám Mục Giáo phận khi cản tòa hay trống tòa. Khi thi hành nhiệm vụ trong những hoàn cảnh này, các Ngài có quyền như Giám Mục Giáo phận. (xem c.428; c.429; c.430)

 

4.- CÁCH THỨC BAN HÀNH LUẬT TRONG GIÁO HỘI

"Luật được thiết lập vào lúc được ban hành."(Can.7).

Ban hành là một hành vi chính thức của nhà lập pháp công bố luật lệ cho cộng đồng biết và tuân hành. Việc ban hành phải được thực hiện công khai, rõ ràng và hợp pháp. Một mệnh lệnh không được ban hành không trở thành luật.(xem số 1.)

"Các luật phổ quát của Giáo Hội được ban hành bằng việc ấn hành trong Công Báo Tòa Thánh “Acta Apostolicae Sedis”, trừ trường hợp riêng biệt mà cách thức ban hành được qui định một cách khác. Luật có hiệu lực ba tháng sau, tính theo ngày đã ghi nơi số báo “Acta”, trừ khi nào chúng bó buộc ngay tức thời do bản-chất của sự việc, hoặc trong chính bản luật đã ấn-định minh thị và qui-định một thời gian hưu lực dài hay ngắn hơn. Các luật địa phương được ban hành theo thể thức các nhà luật pháp ấn định, và bắt đầu bó buộc một tháng sau ngày ban hành, trừ khi một thời gian khác đã được xác định ngay chính trong luật.” (Can.8)

Luật địa phương sau khi hình thành không được phép ban hành khi chưa được Tòa Thánh chuẩn nhận. (xem c.446)

Luật nhằm vào tương lai, không nhằm vào quá khứ, trừ khi trong bản luật có dự liệu đích danh về sự việc quá khứ. (Can.9)

 

5.- AI PHẢI GIỮ LUẬT?

"Các luật thuần túy Giáo Hội bó buộc mọi người đã được rửa tội trong Hội Thánh Công Giáo, hay đã được tiếp nhận vào Hội Thánh Công Giáo; biết xử dụng trí khôn vừa đủ; đã được bảy tuổi trọn, nếu luật không dự liệu minh thị cách khác. (Can.11)

Nếu có nghi ngờ về việc không biết đã rửa tội hay chưa, luật không bó buộc nơi tòa ngoài. Nếu nghi ngờ về việc rửa tội của mình có thành sự hay không,  nên được rửa tội lại với điều kiện.(sub conditione).

Công đồng Vaticano II cho rằng những người rửa tội trong các Giáo-Hội hay Giáo Đoàn không hiệp thông hoàn toàn với Giáo-Hội Công Giáo không buộc phải giữ luật Giáo-Hội.

Những người dù đã trưởng thành, nhưng thiếu khả năng xử dụng trí khôn cách thường trực (không phải do say rượu hay xử dụng ma túy), cũng được miễn chuẩn khỏi việc giữ luật Giáo Hội.(xem c.99)

Đã được bảy tuổi trọn tính theo cách tính như sau: Tính từ ngày sinh ra cho đến hết ngày cùng ngày với ngày sinh đó bảy năm sau (không theo thói quen của người Việt nam tính thêm một tuổi vào tết Nguyên đán mỗi năm). Tuy nhiên, có những trường hợp ngoại lệ: một trẻ em biết xử-dụng trí khôn sớm hơn hay chậm hơn, điều này tùy theo phán đoán khôn ngoan của các cha sở để cho các em có thể Xưng tội lần đầu và rước Mình Thánh Chúa sớm hay muộn hơn. (xem c.913)

Các luật phổ quát bó buộc mọi nơi đối với hết mọi người mà luật chi phối. Các luật phổ quát nào không có hiệu lực trong một lãnh thổ nhất định thì không bó buộc những người hiện đang ở trong nơi ấy. Các luật được ban bố cho một lãnh thổ riêng biệt thì bó những người mà luật nhằm đến, nếu họ có cư sở hoặc bán cư sở và hiện đang cư trú tại đó, miễn là duy trì qui định nơi điều 13 sau đây. (Can.12)

"Các luật địa phương không được suy đoán là tòng nhân nhưng tòng thổ, ngoại trừ khi đã rõ cách khác. Những người được kể là lữ khách không bị bó buộc giữ:

(1) Những luật địa phương thuộc lãnh thổ của mình khi họ đã ra khỏi nơi ấy, trừ khi sự vi phạm những luật ấy gây thiệt hại trong lãnh thổ mình, hoặc vì luật có tính cách tòng nhân.

(2) Những luật của lãnh thổ nơi họ đang ghé qua, ngoại trừ những luật nhằm bảo vệ trât tự công cộng, xác định các thể thức của các hành vi hay liên can đến các bất động sản nằm trong lãnh thổ họ đang ghé qua. Các người được coi là vô gia cư buộc phải giữ những luật phổ quát và luật địa phương hiện hành tại nơi mà họ ghé qua”. (Can. 13)

- Gọi là cư sở: (domicilium) khi có ý chọn nơi ấy là nơi ở nhất định, hoặc nếu không chọn lựa gì cả thì nơi nào đã ở được năm năm.

- Gọi là bán cư sở: (quasi domicilium) khi chọn một nơi để ở tạm một thời gian, hoặc nếu không chọn lựa gì cả thì nơi nào đã ở được ba tháng.

- Gọi là lữ khách (pereginus): người có cư sở hay bán cư sở nhưng hiện đang hành hương ở một nơi khác.

- Gọi là vô gia cư (vagus): người không có cư-sở hay bán cư sở, nay đây mai đó, không ở một nơi nào nhất định.

 

6.- NGHI NGỜ, KHÔNG BIẾT, LẦM LẪN VỀ LUẬT PHÁP:

"Các luật, kể cả luật bãi hiệu hay bãi năng, không bó buộc khi có hoài nghi về pháp luật; trong trường hợp hoài nghi về sự kiện thì các Bản Quyền có thể miễn chuẩn, miễn là, nếu gặp một sự miễn chuẩn đã được dành riêng, thì quyền hành dành riêng vẫn thường chuẩn”. (Can.14)

"Sự không biết hay lầm lẫn về những luật bãi hiệu hay bãi năng không làm ngăn trở hiệu lực của chúng, trừ khi có ấn định minh thị cách khác. Sự không biết hay lầm lẫn về luật pháp hoặc về hình phạt hoặc về sự kiện tư riêng hoặc về sự kiện của người khác đã tỏ tường thì không được suy đoán; còn đối với sự kiện của người khác không tỏ tường thì được suy đoán cho đến khi có bằng chứng ngược lại.” (Can.15)

- Nghi ngờ về chính luật: Tự hỏi không biết có điều luật nào qui định như thế không: luật không buộc.

- Nghi ngờ về sự việc: biết là có điều luật qui định như thế, nhưng tự hỏi không biết làm như vậy có sai luật không; đây là trường hợp thuộc lãnh vực luân lý. Giáo luật khuyên nên gặp Bản Quyền Sở Tại xin hướng dẫn.

Không biết hay lầm lẫn tương tự nhau; trong cả hai trường hợp luật vẫn buộc, vì khi luật lệ được ban hành, giả thiết là mọi người đều phải biết, nhất là trong những trường hợp một hành vi thực hiện do không biết hay lầm lẫn, có ảnh hưởng đến cộng đồng hay ngưởi khác như trong lãnh vực hôn phối chẳng hạn. (xem c. 1099)

 

7. - GIẢI THÍCH, CHÚ GIẢI LUẬT LỆ

"Luật được giải thích cách chính thức do nhà lập pháp hoặc do người nào được nhà lập pháp ấy thác quyền giải thích chính thức. Sự giải thích chính thức theo thể thức của một luật thì có uy lực như chính luật và cần được ban hành, nếu nó chỉ tuyên bố lời lẽ của bản luật tự nó đã chắc chắn thì có hiệu lực hồi tố; còn nếu nó thu hẹp hay mở rộng hoặc quyết đoán một điểm hoài nghi, thì không có hiệu lực hồi tố.

Còn sự giải thích theo thể thức của một bản án hoặc một hành vi hành chánh trong một trường hợp riêng biệt thì không có uy-lực của luật, nhưng chỉ ràng buộc người nào hay chi phối sự việc nào mà nó nhằm tới.” (Can.16)

"Các luật của Giáo Hội cần phải được hiểu theo ý nghĩa riêng của các từ, xét trong văn bản và văn mạch; nếu có chỗ hoài nghi hay tối tăm, thì phải nại đến các chỗ tương tự nếu có, đến mục đích và các hoàn cảnh của luật, và đến ý định của nhà lập pháp.” (Can.17)

"Các luật qui định hình phạt, hoặc hạn chế tự do thi hành quyền lợi, hoặc bao hàm một khoản trừ của luật, thì phải được giải thích một cách chặt chẽ.” (Can. 18)

 

8.- CÁC TỤC LỆ

"Một tục lệ do cộng đồng tín hữu du nhập chỉ có giá trị pháp lý một khi được nhà lập pháp chuẩn y, dựa theo những qui tắc của các điều luật sau đây:”. (những điều 25; 26; 27; 28). (Can. 17)

Tục lệ là luật bất thành văn đã và đang được cộng đồng tuân giữ, tục lệ không được thiết lập do nhà lập pháp và cũng không bao giờ được ban hành. Một tục lệ có thể trở thành một điều luật khi được nhà lập pháp chấp nhận chuẩn y.Có thể xếp tục lệ làm ba loại:

(1) Các tục lệ hợp với luật pháp;

(2) Các tục lệ trái với luật pháp và

(3) các tục lệ ngoại luật."Không một tục lệ nào trái ngược với thiên luật có thể có hiệu lực pháp lý. Tục lệ trái ngược hoặc ở ngoài Giáo luật cũng không có hiệu lực pháp lý, nếu nó không hợp lý. Tuy nhiên, tục lệ nào đã bị minh thị bài bác thì không còn phải là hợp lý nữa.” (Can. 24)

"Không tục lệ nào có thể có hiệu lực pháp lý nếu không được tuân hành do một cộng đồng ít nhất là có khả năng thụ nhận một luật, với ý định du nhập luật lệ.” (Can. 25)

Một cộng đồng không có khả năng tuân giữ luật lệ ban hành do nhà lập pháp được coi như một cộng đồng sống không có luật lệ dù là luật bất thành văn (tục lệ)."Trừ khi được đặc biệt chuẩn y bởi nhà lập pháp có thẩm quyền, một tục lệ trái luật hay ngoại luật chỉ đạt được hiệu lực pháp lý nếu đã được tuân hành hợp lệ trong khoảng thời gian ba mươi năm tròn không gián đoạn. Tục lệ trái ngược với một điều luật có kèm khoản ngăn cấm các tục lệ tương lai thì thỉ có giá trị nếu đã được một trăm năm hay là từ lâu đời.” (Can. 26)

Nhà lập pháp có thẩm quyền có thể chuẩn y một tục lệ bằng ba cách:

(1) Đồng ý bằng ngôn từ hay bằng văn bản;

(2) Giữ im lặng khi được biết có một tục lệ như thế hiện hữu;

(3) Pháp lý hóa một tục lệ bằng cách hệ thống hóa với luật lệ hiện hành.Và luật pháp đặt căn bản trên những thói quen tục lệ nên:"Tục lệ là nguồn giải thích tốt nhất của luật pháp.”. (Can.27)

 

9.- CÁC SẮC LUẬT VÀ HUẤN THỊ.

"Các sắc luật - qua đó nhà lập pháp có thẩm quyền ra những qui định chung cho một cộng đồng có khả năng thụ nhận luật - cũng là luật theo đúng nghĩa và được chi-phối bởi những qui tắc của các điều nói về luật.” (Can. 29)

"Trong khuôn khỗ thẩm quyền của mình, những ai giữ quyền hành pháp có thể ra các huấn thị, nhằm tuyên bố các qui định của luật và quảng diễn cùng xác định các đường lối phải theo để thi hành luật. Các huấn thị ấy được ra cho những người có nhiệm vụ phải thi hành luật và bó buộc họ phải tuân theo khi chấp hành.

Các lệnh truyền của huấn thị không sửa đổi luật. Nếu chúng không phù hợp với các qui định của luật thì sẽ không có giá trị. Các huấn thị hết hiệu lực không những do sự thu hồi minh thị hay mặc nhiên của nhà chức trách có thẩm quyền đã làm ra chúng, hoặc của nhà chức trách có thẩm quyền ở cấp trên, mà còn do sự chấm dứt của luật vì đó mà chúng đã được ban phát để tuyên bố hay truyền chấp hành.” (Can. 34)

- Sắc luật chung: được ban ra cho toàn thể Giáo Hội chính là luật.

- Sắc luật chấp hành: không phải là chính luật mà chỉ là để giải thích luật, cho biết cách thức tuân hành và khuyến khích mọi người giữ luật.

- Sắc luật riêng: được ban ra cho một số người hay một số trường hợp.

 

10.- CÁC NGHỊ ĐỊNH.

"Nghị định là một hành vi hành chánh của cơ quan hành pháp có thẩm quyền, nhờ đó một quyết định hay một biện pháp được đặt ra cho một trường hợp riêng biệt chiếu theo qui tắc luật định. Theo bản chất, quyết định hay biện pháp ấy không giả thiết sự thỉnh cầu của một người nào.” (Can. 48)

"Trước khi ra nghị định nhà cầm quyền phải truy tầm các tin tức và chứng cớ cần thiết, và nếu có thể được, hãy nghe những người mà quyền lợi của họ có thể bị thương tổn.” (Can. 50)

"Nghị định phải được cấp bằng giấy tờ, nếu đó là một quyết định thì phải trưng bày các lý do, ít là cách sơ lược.”. (Can. 51)

"Một nghị định chỉ có giá trị đối với sự việc đã được ấn định và đối với những người được nhằm đến; những người ấy bị nghị định rằng buộc họ bất kỳ họ ở đâu, trừ khi đã rõ cách khác.” (Can.52)

"Nếu các nghị định tương phản nhau, thì khi qui định về trường hợp riêng biệt, nghị định riêng biệt có giá trị hơn nghị định tổng quát; nếu tất cả đều riêng biệt hay tổng quát như nhau, thì trong phạm vi xung khắc, nghị định sau sửa đổi nghị định trước.” (Can. 53)

"Một nghị định hết giá trị do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền, hoặc do sự chấm dứt của luật mà nghị định nhằm chấp hành.”. (Can. 58,1)

 

11.- CÁC MỆNH LỆNH.

"Mệnh lệnh là một nghị định, nhờ đó một nghĩa vụ được đặt ra cách trực tiếp và hợp lệ cho một cá nhân hay một số người nhất định, để buộc họ phải làm hay bỏ điều gì, nhất là để thúc bách tuân giữ luật.” (Can. 49)

"Một mệnh lệnh cá biệt đã không được truyền ra do một văn kiện hợp lệ, sẽ chấm dứt hiệu lực do sự mãn nhiệm của nhà chức trách đã truyền nó.” (Can 58,2)

 

12.- CÁC PHÚC NGHỊ

"Phúc nghị là một hành vi hành chánh mà nhà chức trách có thẩm quyền hành pháp cấp phát bằng giấy tờ, và do bản chất, nhằm ban một đặc ân, một miễn chuẩn hay một ân huệ nào khác do lời thỉnh cầu của một người nào đó. Những qui định về phúc nghị cũng có giá trị với việc cho phép một ân huệ bằng miệng, trừ khi nói rõ cách khác.” (Can. 59)

"Tất cả những ai không bị luật minh thị ngăn cấm đều có thể xin hết mọi thứ phúc nghị.”. (Can.60)

"Trừ khi nói rõ cách khác, có thể xin phúc nghị cho một người khác, mặc dù người đó không đồng ý; và phúc nghị có hiệu lực trước khi người đó chấp thuận, đừng kể khi có các điều khoản trái ngược.” (Can. 61)

"Đừng kể đặc quyền của Tòa Xá Giải dành cho tòa trong, các ân huệ bị khước từ bởi một cơ quan giáo triều Roma không thể được ban phát cách hữu hiệu do một cơ quan nào khác của giáo triều hay một thẩm quyền nào dưới Đức Giáo Hoàng, nếu không có sự đồng ý của cơ quan đầu tiên đã cứu xét.” (Can. 64)

"Đừng kể những quy định ở phần a và b dưới đây, không ai được xin một Bản Quyền khác một ân huệ đã bị Bản Quyền riêng từ chối, nếu không đề cập đến sự từ chối ấy, Bản Quyền không được ban cấp ân huệ nếu không được Bản Quyền trước cho biết lý do sự từ chối.

 a. Một ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục từ chối thì không thể ban cấp cách hữu hiệu do một vị đại diện khác cùng Giám Mục ấy, cho dù đã nhận biết lý do từ chối của các vị đại diện trước.

b. Một ân huệ đã bị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục từ chối, sau đó xin lại Giám Mục giáo phận mà không đề cập đến sự từ chối, thì dù cho được ban cấp cũng trở nên vô hiệu. Một ân huệ đã bị Giám Mục từ chối, sẽ không được ban cấp cách hữu hiệu do vị Tổng Đại Diện hay Đại Diện Giám Mục, dù có đề cập sự từ chối ấy, nếu không có sự thỏa thuận của Giám Mục.” (Can.65)

 

13.- ĐẶC  ÂN.

"Đặc ân là một ân huệ được ban cấp nhằm ích lợi của một vài thể nhân hay pháp nhân do nhà lập pháp hay một cơ quan hành pháp được nhà lập pháp ủy quyền. Căn cứ vào việc xử dụng một đặc ân từ một trăm năm hay dã lâu đời suy đoán rằng đặc ân đã được ban cấp.” (Can. 76)

Theo nghĩa rộng đặc ân là một ơn huệ được ban cho một số người hay một nơi hay một vật thể nào đó. Theo nghĩa hẹp, đặc ân là một ân huệ đặc biệt ban cho một số người hay một nơi hay một vật thể nào đó những điều khoản ngoài luật. Khi đặc ân được ban đi ngược lại những qui định của luật pháp thì đặc ân ấy được coi như một miễn chuẩn.

Chỉ những ai có quyền lập pháp mới có thẩm quyền ban đặc ân, nhưng chỉ được ban đặc ân trong phạm vi quyền hạn của mình. Những người có quyền hành pháp chỉ được phép ban đặc ân khi được ủy quyền.

Một cộng đồng từ cả trăm năm có một vài thói quen ngược với những qui định của luật thì những thói quen đó được coi như một đặc ân. Đặc ân được suy đoán là vĩnh viễn, trừ khi có bằng chứng ngược lại;

Đặc ân đối nhân, nghĩa là gắn liền với cá nhân, chấm dứt cùng với người ấy;

Đặc ân đối vật chấm dứt do sự hủy hoại hoàn toàn của sự vật hay địa điểm.

Tuy nhiên một đặc ân dành cho địa điểm sẽ được phục hồi nếu địa điểm được tái thiết trong vòng năm mươi năm.” (Can.78)

Đặc ân sẽ chấm dứt do sự thu hồi của nhà chức trách có thẩm quyền."Không một đặc ân nào chấm dứt do sự khước từ, trừ khi sự khước từ được chấp thuận do nhà chức trách có thẩm quyền. Bất cứ thể nhân nào cũng có thể khước từ một đặc ân chỉ ban nhằm lợi ích thuần túy cá nhân. Các cá nhân không thể khước từ một đặc ân được ban cho một pháp nhân, hoặc vì danh dự của một nơi, hay một vật. Pháp nhân cũng có thể khước từ một đặc ân đã ban, nếu sự khước từ gây thiệt hại cho Giáo-Hội hay người khác.” (Can. 80)

Việc khước từ khác với việc không hưởng dụng đặc ân đã được ban cấp."Đặc ân không chấm dứt do sự mãn nhiệm của người đã ban cấp, trừ khi được ban với điều khoản “ad beneplacitum nostrum” (theo sở thích của ta) hay một công thức nào tương tự.” (Can.81)

"Đặc ân nào không gây gánh nặng cho người khác thì sẽ không chấm dứt do sự không hưởng dụng hay hưởng dụng trái ngược; nếu gây gánh nặng cho người khác thì sẽ chấm dứt theo thời hiệu hợp lệ.” (Can. 82)

"Đặc ân chấm dứt khi đã mãn kỳ hạn hoặc đã hết số trường hợp đã dành. Đặc ân cũng chấm dứt nếu theo sự thẩm định của nhà chức trách có thẩm quyền, hoàn cảnh thời gian đã thay đổi khiến nó trở thành có hại, hoặc khiến sự xử dụng trở nên bất hợp pháp.” (Can. 83)

"Người nào lạm dụng quyền hành được ban nhờ đặc ân thì đáng bị truất mất đặc ân ấy. Do đó, sau khi đã cảnh cáo mà không có hiệu quả, Bản Quyền đã ban cấp hãy truất đặc ân bị lạm dụng; nếu đặc ân do Tòa Thánh cấp, Bản Quyền có nghĩa vụ thông báo cho Tòa Thánh biết.” (Can. 84)

 

14.- MIỄN CHUẨN.

"Sự miễn chuẩn, tức là tháo cởi một luật thuần túy thuộc Giáo Hội trong một trường hợp cụ thể, có thể ban, trong giới hạn thẩm quyền của mình, do những người giữ quyền hành pháp, hoặc do những người được cấp quyền miễn chuẩn, dù minh thị hay mặc nhiên, hoặc do luật qui định hay do sự ủy nhiệm hợp lệ.” (Can. 85)

"Khi xét thấy điều này mang lại lợi ích thiêng liêng cho giáo hữu, Giám Mục giáo phận có thể miễn chuẩn họ khỏi giữ các luật có tính cách kỷ luật, dù phổ quát dù địa phương, do quyền bính tối cao của Giáo-Hội ban hành cho lãnh thổ hay cho thuộc dân của mình. Tuy nhiên, ngài không được quyền miển chuẩn những luật thuộc về tố tụng, về hình sự, hay những luật mà Tòa Thánh đã dành đặc biệt sự miễn chuẩn cho chính mình hay cho một quyền bính khác. Nếu gặp khó khăn trong việc thượng cầu lên Tòa Thánh và đồng thời có nguy cơ thiệt hại nặng nề do sự trì hoãn, thì bất cứ Bản Quyền nào cũng có thể miễn chuẩn những luất ấy, kể cả khi sự miễn chuẩn được dành cho Tòa Thánh, miễn là sự miễn chuẩn vẫn quen được ban trong những hoàn cảnh tương tự và không chạm tới điều 291.” (Can. 87)

Kể từ Công Đồng Vaticano II, quyền hạn của các Giám Mục đã được nới rộng rất nhiều, Sắc Lệnh Chritus Dominus minh định rằng các Giám Mục có quyền miễn chuẩn trong trường hợp đặc biệt cả những luật phổ quát nếu ngài nhận thấy việc miễn chuẩn mang lại lợi ích thiêng liêng cho giáo hữu của mình, chỉ ngoại trừ những điều đã được dành riêng. Đức Giáo Hoàng Phaolô VI trong Tự Sắc De Episcoporum Muneribus đã ban cho các Giám Mục quyền miễn chuẩn các luật phổ quát và liệt kê rõ ràng các trường hợp dành riêng cho Tòa Thánh.Trong những trường hợp, hoàn cảnh đặc biệt hơn và nếu phải liên hệ với Tòa Thánh thì sẽ có nguy cơ thiệt hại nặng nề về sự trì hoãn, thì ngay cả những điều được dành riêng cho Tòa Thánh, các Giám Mục cũng có quyền miễn chuẩn với lý luận rằng những trường hợp tương tự cũng đã vẫn được Tòa Thánh miễn chuẩn trước đó. Chỉ trừ một trường hợp, đó là luật độc thân Linh Mục. (xem c.291)

"Bản Quyền Sở tại có thể miễn chuẩn các luật giáo phận, và khi xét thấy điều này mang lại thiện ích cho tín hữu, kể cả những luật do Công Đồng Giáo miền, Giáo tỉnh hay do Hội Đồng Giám Mục đã đặt ra.” (can. 88)

"Các Cha sở và các Linh mục khác hoặc Phó tế chỉ được miễn chuẩn các luật phổ quát khi nào đã được minh thị cấp quyền hạn như vậy.” (Can. 89)

Các Cha sở với những lý do hợp lý và nếu có những qui định của Bản Quyền địa phương có thể miễn chuẩn từng lần cho từng người về luật giữ ngày Chúa Nhật hay ngày lễ buộc hay luật giữ chay, hoặc có thể hoán chuyển những luật buộc này sang những công việc đạo đức khác.Trong trường hợp nguy tử, về những trường hợp hôn phối (xem c.1078,2; c.1079; c.1080; số 230; số 231; số 233)"Không được miễn chuẩn luật Giáo Hội khi không có lý do chính đáng và hợp lý, xét theo hoàn cảnh của trường hợp cũng như tầm quan trọng của luật xin miễn chuẩn; nếu không sự miễn chuẩn sẽ bất hợp pháp và có khi vô hiệu nữa trong trường hợp sự miễn chuẩn không được ban do chính nhà lập pháp hay do cấp trên của cơ-quan lập pháp. Khi hoài nghi không rõ có đủ lý do hay không, thì sự ban cấp miễn chuẩn vẫn hữu hiệu và hợp pháp.” (Can. 90)

by frjoe — last modified 2007-01-19 20:39

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.