Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần II: Thể nhân, Pháp nhân và liên hệ họ hàng (4 tiểu mục, 15-18)
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng Phần II: Thể nhân, Pháp nhân và liên hệ họ hàng (4 tiểu mục, 15-18)
Document Actions

Cẩm Nang Giáo Luật Thực Dụng

Phần II: Thể nhân, Pháp nhân và liên hệ họ hàng (4 tiểu mục, 15-18)

15.- CÁC THỂ NHÂN

Việc phân biệt thể nhân và pháp nhân có trong tất cả các nền pháp chế trên thế giới. Thể nhân là một con người bằng xương bằng thịt, có nghĩa là một người hiện hữu trong xã hội, đóng góp, chia sẻ vào những sinh hoạt của xã hội và dĩ nhiên bị chi phối bởi luật lệ của xã hội ấy. Khi nhiều thể nhân họp lại với nhau để lập thành một nhóm với một danh hiệu được luật pháp chấp nhận thì nhóm đó được gọi là pháp nhân.

Cá nhân hay thể nhân sẽ mai một theo thời gian hơn kém một trăm năm; nhưng pháp nhân hay các đoàn thể, tổ chức thường tồn tại lâu bền hơn.

- Những thể nhân trong Giáo Hội Công Giáo:

Do bí tích rửa tội, con người được sát nhập vào Giáo Hội của Đức Kitô và thủ đắc nhân cách trong Giáo Hội, với các nghĩa vụ và quyền lợi riêng của các tín hữu Kitô, chiếu theo điều kiện của mỗi người, miễn là họ duy trì sự hiệp thông với Giáo Hội và không bị ngăn trở bởi một chế tài đã được tuyên bố cách hợp lệ. (Can.96)

Chỉ những người đã lãnh nhận bí tích rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo, hoặc đã lãnh nhận bí tích này trong một Giáo Hội không Công Giáo, nhưng sau đó được đón nhận vào Giáo Hội Công Giáo mới bị chi phối do luật Giáo Hội. (xem số 5)

- Tuổi tác của các thể nhân:

Cách tính tuổi theo Giáo luật: được kể là một tuổi khi tính từ ngày sinh ra cho “đến hết ngày” cùng ngày với ngày sinh ấy một năm sau. Giáo luật không chấp nhận thói quen của người Việt nam tính thêm một tuổi vào ngày đầu năm âm lịch (Tết Nguyên Đán).

Người đã được mười tám tuổi trọn là kẻ trưởng thành; trước tuổi ấy là vị thành niên. Vị thành niên, trước khi được bảy tuổi trọn được gọi là nhi đồng, và được coi như không tự chủ; một khi đã được bảy tuổi trọn thì được suy đoán là biết xử dụng trí khôn. (Can.97)

Người trưởng thành được xử dụng đầy đủ các quyền lợi của mình (c.98,1).

Những người thường xuyên thiếu xử dụng trí khôn cũng coi như thiếu tự chủ và được đồng hóa với các nhi đồng. (Can.99)

- Cư trú của các thể nhân:

Một người được coi là thường trú nhân tại nơi mà họ có cư sở; khách trú nhân tại nơi họ có bán cư sở; lữ khách nếu họ ở ngoài cư sở và bán cư sở tuy vẫn còn duy trì chúng; vô gia cư nếu không có cư sở và bán cư sở ở nơi nào hết.(Can.100)

Một người có được cư sở do việc trú ngụ trong lãnh thổ của một giáo xứ, hay ít là trong lãnh thổ của một giáo phận, kèm theo ý định ở lại đó vĩnh viễn nếu không có gì ngăn trở, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài được năm năm tròn. Một người có được bán cư sở do việc trú ngụ như trên nhưng kèm theo ý định chỉ ở lại ba tháng, hoặc việc trú ngụ đã kéo dài được ba tháng. (c.102)

Vợ chồng có chung cư sở và bán cư sở. Vì lý do ly thân hợp pháp hay vì lý do chính đáng nào khác mỗi người có thể có một cư sở hay bán cư sở riêng.(Can.104)

Do cư sở và bán cư sở mà một người có Cha Sở và Bản Quyền riêng: Cha sở và Bản Quyền riêng của người vô gia cư là cha sở và Bản Quyền tại nơi mà người ấy hiện đang trú ngụ.(xem c.107)

Cư sở và bán cư sở bị mất do việc đi khỏi nơi ấy với ý định không trở về.(c.106)

Nguyên quán của người con, dầu là con của người tân tòng, là nơi khi đứa trẻ sinh ra cha mẹ đang có cư sở hay bán cư sở; nếu cha mẹ không có chung cư sở hay bán cư sở thì lấy nơi của người mẹ. Nếu là con của người vô gia cư thì nguyên quán là chính nơi đã được sinh ra; nếu đứa trẻ bị bỏ rơi, thì nguyên quán là nơi nó đã được tìm thấy.(c.101)

 

16. - LIÊN HỆ HỌ HÀNG

Liên hệ họ hàng giữa các thể nhân không chỉ quan trọng trong lãnh vực hôn phối, nhưng cả trong các lãnh vực trao phó các nhiệm vụ khác trong Giáo Hội (Giáo Vụ) nữa. Huyết tộc được tính theo hàng và cấp:

Trong hàng dọc (trực hệ), có bao nhiêu đời người thì có bấy nhiêu cấp, nghĩa là tính theo số người sinh bởi gốc chung nhưng không tính chính gốc ấy.

Trong hàng ngang (bàng hệ), các cấp được tính theo bao nhiêu người trong cả hai hàng cùng bởi gốc chung, nhưng không tính chính gốc.(Can.108)

Hôn thuộc phát sinh do hôn nhân hữu hiệu, dù không hoàn hợp, giữa người chồng với huyết tộc của người vợ, và giữa người vợ với huyết tộc của người chồng. Hôn thuộc được tính theo cách này: huyết tộc của người chồng có cùng hàng và cấp như của người vợ và ngược lại. (Can.109)

 

17. - CÁC PHÁP NHÂN

Nếu luật pháp chấp nhận và ban hành luật lệ cho các thể nhân, luật pháp cũng đồng thời chấp nhận và ban hành luật lệ cho các pháp nhân.

Các loại pháp nhân:

Pháp nhân công (personae iuridicae publicae): Khi được Giáo Hội nhìn nhận là được thiết lập chiếu theo công ích của Giáo Hội và hành động nhân danh Giáo Hội.(xem c.116,1).

Pháp nhân tư (personae iuridicae privatae): Được nhìn nhận như pháp nhân, nhưng không hành động nhân danh Giáo Hội.Một nhóm người (Universitas Personarum): Phải có ít nhất từ ba người trở lên.

Một nhóm sự vật (Universitas Rerum): Bao gồm những tài sản, của cải được đặt dưới việc quản lý của các thể nhân hay tập đoàn.

- Các pháp nhân trong Giáo Hội

- Giáo Hội Công Giáo và Tòa Thánh hưởng điều kiện pháp nhân do Thiên luật. (xem c.113,1).

- Các pháp nhân được thành lập do Giáo luật:          

. Các Giáo Phận hay tương đương giáo phận. (xem c.374).  

. Các Hội Đồng Giám Mục. (xem c.449,2).   

. Các Giáo Tỉnh.(xem c.432,2); Các Giáo Xứ. (xem c.515,3).           

. Các Tu Hội, Tỉnh Dòng, Tu Viện.(xem c.634,1).    

. Các Hội đoàn thờ phượng, Tông đồ, Từ thiện v.v...(xem cc.114,1; 117).

- Chấm dứt một pháp nhân. Các pháp nhân có thể bị chấm dứt theo các cách thế sau:

- Bị nhà chức trách có thẩm quyền giải tán.

- Bị tan rã vì hết hội viên, hết hoạt động. Tuy nhiên, giáo luật dành một trăm năm mới khai tử pháp nhân, tính từ ngày hết hoạt động.

- Nếu là pháp nhân tư, nội qui có thể ấn định việc giải tán, hoặc vì hết thời hạn, hoặc vì mục tiêu đã đạt được. Trong những trường hợp pháp nhân tư, nhà chức trách có thể tuyên bố giải tán nếu thấy hết hoạt động. Khi pháp nhân bị giải tán, tài sản của pháp nhân được thanh toán như sau:

- Nếu là pháp nhân công: Tài sản được thanh toán chiếu theo luật hoặc nội qui. Nếu luật và nội qui không nói gì, thì tài sản thuộc về pháp nhân cấp cao hơn, trừ khi ý muốn của người sáng lập hoặc dâng cúng định liệu cách khác.

- Nếu là pháp nhân tư: tài sản, các quyền lợi và nghĩa vụ được thanh toán chiếu theo nội qui.(xem c.123)

 

18. - CÁC HÀNH VI PHÁP LÝ

Những hành vi pháp lý là những hành vi thực hiện do một chủ thể với ý định tạo nên hiệu quả pháp lý; nói một cách khác, là những hành vi mà chủ thể hành động biết và muốn có hiệu quả pháp lý.

Một hành vi pháp lý được hữu hiệu, cần phải được thực hiện do một người có năng cách (capacitas), và hội đủ những gì cấu thành bản chất của hành vi ấy, cũng như các thể thức và điều kiện mà luật đặt ra cho sự hữu hiệu của hành vi. Một hành vi pháp lý được thực hiện hợp lệ xét theo các yếu tố bên ngoài thì được suy đoán là hữu hiệu.(Can.124)

Một hành vi pháp lý bị coi như vô giá trị nếu được thực hiện do sự thúc đẩy của vũ lực từ bên ngoài chủ thể mà người ấy không thể cưỡng lại được. Một hành vi được thực hiện do sự sợ hãi trầm trọng gây ra cách bất công, hoặc do sự lường gạt thì vẫn có hiệu lực, nếu luật không dự liệu cách khác. Tuy nhiên, hành vi ấy có thể xin bãi tiêu do án văn của thẩm phán, hoặc theo sự thỉnh cầu của đương sự bị thiệt hại, hoặc do những ai thừa kế người ấy theo luật, hoặc chiếu theo chức vụ. (Can.125)

Một hành vi sẽ vô giá trị nếu thực hiện do sự vô tri hay lầm lẫn có liên hệ tới bản thể của hành vi hoặc ảnh hưởng tới điều kiện tất yếu (sine qua non); ngoại trừ các trường hợp ấy, hành vi vẫn có giá trị, nếu luật không dự liệu cách khác. Tuy nhiên, một hành vi phát khởi do sự vô tri hay lầm lẫn có thể sinh ra tố quyền bãi tiêu theo qui tắc luật định.(Can.126)

Khi luật ấn định rằng để thực hiện một vài hành vi, Bề trên cần có sự thỏa thuận hay tham khảo ý kiến của một tập đoàn hay của một nhóm người, thì tập đoàn hay nhóm người cần phải được triệu tập theo qui tắc luật định (c.166), trừ khi luật địa phương hay luật riêng định cách khác về vấn đề tham khảo. Để hành vi có giá trị cần phải đạt được sự thỏa thuận của đa số tuyệt đối của những người có mặt, hoặc phải tham khảo với tất cả mọi người.Khi luật định rằng, để thực hiện một vài hành vi, bề trên cần có sự thỏa thuận hay tham khảo ý kiến của vài người xét như từng cá thể:

- Nếu luật đòi hỏi sự thỏa thuận thì hành vi sẽ vô hiệu khi nào bề trên thực hiện nó mà không có sự thỏa thuận của những người ấy, hoặc làm trái ngược lại ý kiến của những người ấy hay ý kiến của một vài người đã nói.

- Nếu luật đòi hỏi sự tham khảo, thì hành vi sẽ vô hiệu khi bề trên không bàn hỏi họ. Tuy rằng bề trên không buộc theo ý kiến họ cho dù họ nhất trí, nhưng ngài không nên làm trái ý kiến của họ, nhất là khi họ đã phát biểu cách nhất trí, nếu không xét thấy cách khôn ngoan rằng có một lý do mạnh hơn để làm ngược lại. Tất cả những người mà luật đòi có sự thoả thuận hay tham khảo ý kiến đều có nghĩa vụ phải bày tỏ ý kiến của mình cách thành thực. Nếu vấn đề quan trọng đòi hỏi, họ bó buộc phải thận trọng giữ bí mật; và bề trên có thể cưỡng bách họ sự bó buộc này.(Can.127).

Ai đã gây cho người khác một thiệt hại nào đó một cách bất hợp pháp do một hành vi pháp lý, hay kể cả do bất cứ hành vi nào khác đã làm vì gian trá hay lỗi lầm, thì buộc phải bồi thường sự thiệt hại đã gây ra.(Can.128).

by frjoe — last modified 2007-01-19 20:38

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.