Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 9. Bỏ chồng có quyền lập hôn phối khác không?
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 9. Bỏ chồng có quyền lập hôn phối khác không?
Document Actions

Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2)

9. Bỏ chồng có quyền lập hôn phối khác không?

Kính gởi Cha Bùi Đức Tiến,

Thưa Cha, con là một độc giả thường xuyên của báo Dân Chúa Úc Châu. Nay con có một vài thắc mắc liên quan đến vấn đề hôn phối xin trình bày nơi đây, kính mong Cha giải đáp cho con: Con năm nay ngoài 40 tuổi đời, đã một lần lập gia đình qua hôn phối công giáo. Nhưng bất hạnh thay người vợ con đã qua đời trong một tai nạn lưu thông để lại cho con hai đứa con còn nhỏ dại.

Trước năm 75, con là một sĩ quan trừ bị mới ra lò. Trong khoảng thời gian đó con có quen một người con gái ở lứa tuổi 18 học trò và con được 22 tuổi. Chúng con quen và yêu nhau được 2 năm, tình yêu cũng đã thắm thiết lắm. Thế rồi biến cố 30 tháng Tư đến. Đơn vị con tham dự một trận đánh khốc liệt với quân cộng sản Bắc Việt vào những ngày đầu tháng Tư. Bị công phá bằng pháo binh và đánh biển người, đơn vị con đành chịu thất thủ: kẻ chết cũng nhiều mà người bị thương cũng lắm, riêng con thì bị giăïc bắt làm tù binh từ những ngày binh lửa ấy.

Trải qua bao trại tù, trại cải tạo, sau 5 năm tù đày, con được chuyển qua trại lao động và lợi dụng cơ hội ấy con đã trốn thoát khỏi trại về vùng biển và may thay gặp được chuyến tàu vượt biên. Làm thân “căn me”, con đã vượt thoát thành công, sau được nhận đến định cư tại Úc và lập gia đình năm 1982, chúng con sống hạnh phúc được 10 năm, đến 1992 thì vợ con qua đời.

Nói về chuyện người yêu trước ở Việt Nam, sau những ngày tháng con bị bắt làm tù binh thì vận nước đổi thay, mọi người dân lúc đó ai cũng phập phồng lo sợ, không biết thời thế sẽ ra sao khi bị cộng sản thống trị. Thêm vào đó, tình hình chính trị kinh tế lúc ấy thật khó khăn. Người con yêu ở nhà mòn mỏi chờ tin con, nàng phải đương đầu với bao khó khăn của xã hội nhiễu nhương lúc bấy giờ, tứ cố vô thân không biết nương tựa vào đâu, phần con thì vẫn bặt vô âm tín. Chờ ba năm sau thì nàng đành phải đi lấy chồng. Chồng nàng cũng là người thanh niên công giáo cùng xứ đạo và họ đã làm hôn phối chính thức tại nhà thờ xứ. Sống cảnh gia đình được 5 năm, nàng có với chồng được 3 người con.

Sau khi sanh đứa thứ ba được ba tháng thì chồng nàng vượt biên đến trại tỵ nạn và được nhận vào định cư tại Mỹ. Khi còn ở Việt Nam, lúc ấy vì hoàn cảnh tài chánh khó khăn nên hai vợ chồng đã bàn tính và đồng thuận với nhau: cùng gom góp tiền bạc nữ trang lo liệu cho chồng đi trước, nếu được đến nơi bình an, có công ăn việc làm thì gởi tiền bạc về thu xếp cho vợ con đi sau. Sau ngày chồng khăn gói ra đi, người vợ ở nhà trông ngóng từng ngày, hết năm này sang tháng nọ mòn mỏi, nhưng vẫn biền biệt tin chồng, nàng phải vất vả lăn lộn mưu sinh nuôi mẹ già và ba con mọn trong một xã hội với trăm ngàn nỗi khốn khó truân chuyên.

Phần người chồng sau khi đã đến bến bờ bình an thì quen với một người đàn bà khác tại trại tỵ nạn và hai người cùng đến Mỹ định cư và họ đã chính thức trở nên vợ chồng theo luật đời chứ không có hôn phối theo phép đạo. Thời gian lặng lẽ trôi tính ra đã 12 năm, người chồng vui duyên mới, cố tình lãng quên vợ con, không thư từ, không cấp dưỡng, không khai người vợ và 3 con chính thức ở Việt Nam trên bất kỳ văn kiện nào và không có ý định bảo lãnh vợ con đoàn tụ.

Hai năm sau ngày vợ con qua đời, nhân một chuyến về thăm quê hương, tình cờ con gặïp lại người con yêu thuở xưa, chính là người đàn bà bất hạnh trong câu chuyện. Cuộc sống nàng thật vất vả gian nan, kiếm được bữa sáng thì thiếu bữa chiều, một mình quần quật chạy từng bữa nuôi một nhà năm miệng ăn, cơ cực và vất vả trăm chiều. Thấy tình cảnh đáng thương của nàng, cũng vì tình xưa nghĩa cũ, nên con đã làm thủ tục bảo lãnh cho nàng và 3 đứa con đến Úc định cư theo diện người phối ngẫu qua luật đời và may mắn thay người đàn bà bất hạnh ấy cùng 3 người con đã đến định cư tại Úc được 3 tháng nay rồi. Vì thế trong hoàn cảnh éo le của câu chuyện con vừa trình bày, xin Cha giải đáp cho con những thắc mắc như sau:

1.- Nàng đã có hôn phối với người chồng trước chính thức theo luật Giáo hội, nhưng người chồng đã bỏ nàng đi lấy người khác (đã 12 năm), thì nay nàng có quyền nộp đơn xin giáo quyền vô hiệu hóa phép hôn phối trước kia không? Nếu được thì phải làm những thủ tục gì ?

2.- Đối với con và nàng theo luật pháp Úc thì chúng con đã là vợ chồng chính thức có giá thú đời hợp lệ, thế thì chúng con có được phép làm hôn phối theo luật đạo với nhau không? Hay phải chờ đến khi có kết quả được phép vô hiệu hóa hôn phối của nàng với người chồng cũ.

3.- Nếu chưa làm phép hôn phối, chúng con sống với nhau như vợ chồng thì phạm vào những điều luật nào của Giáo hội.

Đây là những bối rối lo âu của chúng con. Xin cha bớt chút thì giờ giải đáp, để chúng con có thể thu xếp việc linh hồn càng sớm càng tốt.

Minh Trân, (Nam Úc)

**********

Kính thăm anh Minh Trân và gia đình. Đọc lá thư dài anh viết về hoàn cảnh gia đình éo le của anh, tôi rất thông cảm. Chính vì vậy, tôi xin chia sẻ, giải đáp cho anh những thắc mắc anh đề ra trong thư. (Tôi tạm gọi người bạn gái anh đã bảo lãnh sang Úc là A và chồng của cô ấy - đang sống bên Mỹ - là B để việc giải đáp được diễn tả rõ ràng hơn)

1. Khi nói đến hôn phối Công Giáo, Giáo Hội thường trích dẫn một câu trong Phúc âm Thánh Matthêu: "Sự gì Thiên Chúa kết hợp, loài người không được phân ly" (Mt 19,6). Từ ngữ "loài người" ở đây hiểu theo nghĩa chung, bao gồm cả Giáo Hội và Giáo quyền. Nếu Bí tích hôn phối cử hành trong nhà thờ giữa cô A và anh B đã thành sự (valid) thì không một quyền lực nào được phân ly cả. Có nghĩa là Giáo quyền không thể vô hiệu hóa hôn phối đã cử hành thành sự giữa cô A và anh B. Do đó, khi cả hai người còn sống (dù không sống với nhau như vợ chồng và dù cô A chỉ là nạn nhân) thì họ không được phép kết hôn theo nghi thức công giáo với bất cứ một người nào khác.

Chỉ còn một vấn đề có thể được đặt ra ở đây là: liệu hôn phối cử hành giữa anh B và cô A đã thành sự hay đã không thành sự? Theo cái nhìn của tôi, hình như anh B trước khi cử hành hôn phối với cô A, đã không hiểu thấu đáo về Bí tích hôn nhân, với hai yếu tố then chốt là đơn hôn (chỉ có quyền kết hôn với một người) và vĩnh hôn (cho đến suốt đời). Vì vừa sang đến trại tị nạn thôi, là anh đã quên đi người vợ đáng thương đang mòn mỏi chờ chồng để có một người đàn bà khác. Nếu quả thật (và chứng minh được) là anh B khi cử hành hôn phối với cô A, đã chẳng biết gì về đơn hôn và vĩnh hôn, thì tôi e rằng hôn phối đó đã không thành sự ngay từ lúc cử hành. Việc này phải được điều tra và tuyên bố do tòa án Hôn Phối địa phương. Cô A có thể nhờ Cha Tuyên Úy Cộng đoàn giúp để liên lạc với Tòa án Hôn phối này. Hơn nữa, như anh trình bày, tôi tự hỏi cô A có thật lòng tự do trong việc kết hôn với anh B không, hay chỉ vì người cô yêu (là anh) bị giam tù quá lâu, không tin tức, nên cô buộc lòng phải kết hôn với anh B?

2. Dù anh và cô A đã là vợ chồng theo luật đời, nhưng theo cái nhìn của Giáo Hội Công giáo, anh và cô A không phải là vợ chồng trước mặt Chúa và Giáo Hội. Hai người chỉ có thể cử hành hôn phối theo luật đạo sau khi tòa án Hôn Phối chính thức tuyên bố hôn phối đã cử hành giữa anh B và cô A không thành sự.

3. Việc xác nhận sự sống chung của anh và cô A là phạm vào những điều luật nào của Giáo Hội, anh có thể liên lạc với Cha Sở hay Cha Tuyên Úy nơi anh ở, các ngài sẽ giúp anh câu trả lời.

Mong rằng anh có thể liên lạc sớm với tòa án Hôn Phối địa phương để thu xếp mọi việc. Xin lỗi đã giải đáp thư anh chậm trễ. Thân mến.
by frjoe — last modified 2007-01-13 18:59

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.