Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 49. Người Công giáo chỉ làm tiệc cưới đời.
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 49. Người Công giáo chỉ làm tiệc cưới đời.
Document Actions

Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2)

49. Người Công giáo chỉ làm tiệc cưới đời.

Kính gởi cha Bùi Đức Tiến,

Kính thưa Cha, trước hết chúng con xin dâng lên cha lời thăm sức khỏe, lời cầu chúc cha luôn luôn an vui trong Thánh chức. Sau chúng con xin cha rộng lòng giải đáp một số câu hỏi mà chúng con xin được trình bày cùng cha dưới đây. Chúng con hết lòng cảm tạ và tri ân Cha.

1. Cách nay gần chín năm..ngày con còn ở Việt Nam, cha xứ con có thông báo là kể từ nay trở về trước ai đã tham dự tiệc cưới của người công giáo kết bạn mà chưa thu xếp việc “đạo” thì phải gặp cha Quản hạt để giải quyết và kể từ hôm nay về sau nếu ai tham dự như thế thì sẽ do Tòa Giám Mục giải quyết. Trường hợp con gặp phải một lần. Người quen tổ chức cưới hỏi cho con mà không có phép tắc chi hết, vì con ở xa. Khi  đến nơi con chỉ được cho biết là mọi việc đã thu xếp xong. Sau đó, vì kế cận của những ngày xuất cảnh, con đã không tỏ bày sự việc trên với bất cứ đấng nào, vì con biết chỉ có tổ chức tiệc cưới mà không có việc đạo. Do đó:

A. Con có mắc lỗi không? Và nếu có nên trình bày sự việc này với đấng nào mà con phải gặp?

B. Hiện nay, ở Úc có ảnh hưởng chi đến việc trên không? Vì con có gặp một trường hợp người công giáo kết bạn với một người thuộc tôn giáo bạn mà không có phép chuẩn (ở Úc) nên con đã cáo lỗi không đến dự vì còn e ngại bởi sự ràng buộc trước đây! Và thưa cha những trường hợp như thế thì người được mời phải xử sự ra sao?

2. Dựa trên những tiêu chuẩn nào để được tuyển chọn làm Thừa tác viên Thánh Thể? Ai chịu trách nhiệm hay đề cử, và Thừa tác viên Thánh Thể phải chịu trách nhiệm về bổn phận mình ra sao? Bởi có những người đã được huấn luyện và được Đức Giám Mục cấp phép thì bên cạnh đó lại có cả Thừa Tác Viên (nghiệp dư) thiếu nhi, có khi có cả giúp lễ trao Mình Thánh Chúa nữa. Có người than phiền bất xứng quá vì trẻ con chưa ý thức việc thánh này cha nghĩ sao? Hình như trường hợp này đang bị lạm phát!

3. Thánh lễ đồng tế sẽ có một chủ tế. Vậy thưa cha có sự khác biệt nào giữa vị chủ tế và đồng tế không? Con hỏi cha vì có trường hợp đã xảy ra: Một linh mục nọ được mời đồng tế, ngài đã nhận lời. Nhưng khi tới giờ, vị linh mục này không đến và sau này hỏi thì ngài bảo “không thích đồng tế”. Một trường hợp nữa, cũng một linh mục phải chủ tế mới chịu, bằng không thì thôi, cũng chỉ vì không thích! Lạy Chúa, vậy Thánh lễ bây giờ xem như không còn cực trọng nữa chăng? Cha nghĩ sao thưa cha?

Kính xin cha nhận lòng thành kính tri ân của chúng con.

Kính,

Giuse Phạm Nguyễn.

*******

Kính Ông Giuse Phạm Nguyễn,

Thường tôi xếp loại các thắc mắc và giải đáp theo đề mục, nhưng đọc xong thư của ông viết, tôi không xếp loại được, vì trong thư ông có ba câu hỏi, mỗi câu gần như  thuộc một lãnh vực khác nhau, nên tôi xin đề chung dưới đề mục “Thắc mắc chung”.

Câu hỏi thứ nhất, ông đề cập đến trường hợp một người công giáo được mời tham dự tiệc cưới của một người công giáo kết hôn với một người không phải là công giáo mà chỉ tổ chức tiệc cưới thôi, không thực hiện Bí tích hôn phối trong nhà thờ. Điển hình là một hoàn cảnh như thế đã xảy ra cho ông cách nay 9 năm.

Tôi xin trả lời phần A. của câu hỏi 1. này như sau: Ông bị mắc lỗi khi tham dự buổi tiệc cưới đó, vì ông đã biết rõ ràng rằng có luật qui định về khoản này như ông viết: “ai đã tham dự tiệc cưới của người công giáo kết bạn mà chưa thu xếp việc “đạo” thì phải gặp cha Quản hạt để giải quyết và kể từ hôm nay về sau nếu ai tham dự như thế thì sẽ do Tòa Giám Mục giải quyết”, và ông cũng đã “biết chỉ có tổ chức tiệc cưới mà không có việc đạo”. Đề nghị ông nên gặp một linh mục, trình bày với ngài về sự kiện trên và ngài sẽ giúp ông giải quyết.

Phần B. của câu hỏi 1.: Giáo hội chỉ chấp nhận một người công giáo là có vợ hay có chồng sau khi đã thực hiện Hôn phối theo nghi thức Giáo hội qui định trong luật Phụng vụ các Bí tích. Khoản luật này là luật chung áp dụng cho mọi tín hữu (tòng nhân). Một tín hữu không kết lập hôn ước theo những qui định của luật này sẽ phải chịu những biện pháp chế tài. Tuy nhiên, những biện pháp chế tài lại được ban cho Bản Quyền Sở tại ở từng địa phương (tòng thổ). Do đó, mỗi Hội Đồng Giám Mục hay mỗi Giáo phận có thể áp đặt những biện pháp chế tài khác nhau tùy theo không gian và thời gian khác nhau. Như ông trình bày trong thư: Trước kia thì cha Quản hạt giải quyết vấn đề và sau đó thì chính Tòa Giám mục dành quyền giải quyết. Trong trường hợp một người tín hữu Công giáo được mời tham dự một hôn nhân không cử hành theo nghi thức của Giáo hội thì người ấy nên khôn ngoan xử sự tùy theo hoàn cảnh. Cách chung, việc tham dự một bữa tiệc như thế sẽ tạo nên gương mù gương xấu chống lại giáo huấn của Giáo Hội.

Câu hỏi 2.: Điều luật 910 qui định như sau: "Thừa tác viên thông thường cho rước lễ là Giám Mục, Linh mục và Phó tế. Thừa tác viên ngoại thường cho rước lễ là những người lãnh tác vụ giúp lễ và các tín hữu nào khác được chỉ định theo điều 230,3: " Nơi nào nhu cầu Giáo Hội đòi hỏi và thiếu thừa tác viên, thì các giáo dân dù không có tác vụ đọc sách và giúp lễ, cũng có thể thay thế họ làm một số việc, tỉ như thi hành tác vụ Lời Chúa, chủ tọa các buổi cầu nguyện, rửa tội và cho rước lễ theo các qui tắc Luật định.

Tự Sắc Sacrum Diaconatus ngày 18-6-1967 ban phép cho các Phó tế vĩnh viễn năng quyền trao Mình Thánh Chúa cho chính mình và cho người khác, kể cả việc đem Mình Thánh Chúa như của ăn đàng cho những người đau ốm.

Ngày 29-1-1973. Thánh Bộ các Bí tích ấn định những điều sau đây:

1. Bản Quyền sở tại có thể chỉ định những thừa tác viên ngoại thường trao Mình Thánh Chúa trong những hoàn cảnh đặc biệt và trong thời gian nhất định. Người được chỉ định sẽ được phép trao Mình Thánh Chúa cho chính mình và cho người khác, đồng thời nếu trong trường hợp vắng các Linh mục hay Phó tế, họ có thể đem Mình Thánh Chúa đến cho những người đau ốm không đến tham dự Thánh Lễ tại nhà thờ được.

 2. Hơn nữa, Bản Quyền có thẩm quyền ủy thác cho các Linh mục đang thi hành công tác mục vụ được phép mời người trao Mình Thánh Chúa từng lần (per modum actus). Những người được mời này được liệt kê theo thứ tự ưu tiên như sau:

 (1) Những người có tác vụ đọc sách; 

 (2) Các đại chủng sinh; 

 (3) Các Tu sĩ nam nữ.

Giáo Luật ấn định rằng: Dù trong trường hợp nào, các thừa tác viên ngoại thường này vẫn cần được tuyển chọn và hướng dẫn về công việc họ làm. Những ai không thích hợp thì không nên chỉ định họ vào công tác Thánh.

Nếu quả có những trường hợp ông đề cập như các Thừa tác viên (nghiệp dư) thiếu nhi, có khi có cả giúp lễ trao Mình Thánh Chúa nữa thì tôi đồng ý với ông về những than phiền về sự bất xứng này. Nhưng than phiền không thôi thì tiêu cực quá, đề nghị ông nên gặp trực tiếp hay gián tiếp các linh mục liên hệ để trình bày và để sửa lại cho đúng.

Phần câu hỏi 3.: Tôi không nghĩ là tôi nên đề cập đến một vài trường hợp riêng rẽ về cá nhân linh mục này hay linh mục nọ, thích đồng tế hay không thích đồng tế, phải làm chủ tế hay không. Tôi chỉ chia sẻ với ông về những qui định trong Giáo Luật về việc đồng tế Thánh Lễ:

Điều luật 902 qui định rằng: "Trừ khi ích lợi của các tín hữu đòi hỏi hay khuyến khích cách khác, các tư tế có thể đồng tế Thánh Lễ. Tuy nhiên, mỗi người hoàn toàn tự do cử hành lễ Thánh Thể một mình, miễn là không cùng một lúc với lễ đồng tế trong cùng một nhà thờ hay nhà nguyện."

Việc các tư tế đồng tế Thánh Lễ đã có ngay từ những thế kỷ đầu tiên của Giáo Hội.

Bộ Giáo Luật cũ (năm 1917) chỉ cho phép đồng tế trong hai trường hợp: Thánh Lễ Truyền Chức Linh mục và Thánh Lễ Thánh Hiến Giám Mục. Hiến Chế Sacrosanctum Concilium (số 57) cho phép đồng tế trong các dịp sau:

1. Thánh Lễ Truyền Dầu và trong Thánh Lễ Tiệc Ly, chiều ngày thứ năm Tuần Thánh.

2. Các Thánh Lễ khi họp Công Đồng.

3. Các Thánh Lễ khi các Giám Mục Hội họp. 

4. Các Thánh Lễ khi họp Thượng Hội đồng Giám Mục. 

5. Thánh Lễ phong chức Đan Viện Phụ.

Hiến chế cũng ban quyền cho các Giám Mục được cho phép đồng tế trong những trường hợp sau:

1. Thánh Lễ trong các nhà dòng. 

2. Thánh Lễ chính trong các nhà thờ.

3. Khi các Linh mục Hội họp.

Thánh Bộ Phụng Tự tuyên bố ngày 12-1-1965 rằng: "Các Giám Mục giáo phận có quyền ấn định các cách thức và những trường hợp đồng tế, đồng thời qui định các qui tắc cho việc đồng tế trong địa phận thuộc quyền".

Trong Bản Dẫn Giải Eucharisticum Mysterium, Thánh Bộ Phụng tự nói thêm rằng: "Vẫn tôn trọng việc cử hành Thánh Lễ riêng, nhưng đồng tế tốt hơn, nhất là trong trường hợp các giáo sĩ sống chung với nhau, cùng nhau hội họp, ở cùng trong một vùng, trong chủng viện, các học xá v.v... ".

Ngày 7-12-1972, Thánh Bộ Phụng tự công bố một tuyên ngôn liên hệ đến việc Đồng tế như sau: Chỉ có các Linh mục đã phải dâng lễ vì nhu cầu mục vụ cho giáo dân mới được phép dâng lễ lần thứ hai (binate) trong lễ đồng tế. Các trường hợp khác thì không được phép.

"Cấm các tư tế Công Giáo đồng tế Thánh Lễ với các tư tế hay thừa tác viên của các giáo Hội hay các giáo đoàn không thông hiệp hoàn toàn với Giáo Hội Công Giáo.". (Can.908).

Tại Việt Nam,  Bản Năng Quyền Thập niên 1971-1980  lưu ý như sau: Trong các dịp lễ cưới, lễ giỗ, lễ an táng...các Đức Giám Mục không cho phép đồng tế, trừ ra lễ an táng Linh mục, Tu sĩ hay cha mẹ các vị ấy. (NQTN,3).

Thiết tưởng việc trả lời như thế cũng đã khá đầy đủ cho các câu hỏi của quý ông. Kính chúc quý ông luôn bình an trong Chúa.

by frjoe — last modified 2007-01-13 20:54

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.