Skip to content. Skip to navigation
Personal tools
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 15. Dối trá để cử hành hôn phối (1)
Sections
You are here: Home Sách đã xuất bản Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2) 15. Dối trá để cử hành hôn phối (1)
Document Actions

Thắc Mắc & Giải Đáp Giáo Luật (Tập 2)

15. Dối trá để cử hành hôn phối (1)

Kính gửi Cha Bùi Đức Tiến,

Thưa cha, con là Phêrô Nguyễn Văn Hào. Ngày xưa trước năm 1975 con đi dạy học, nhưng bây giờ ở Úc thì con làm đủ mọi nghề, phần lớn là việc tay chân. Con giữ đạo cũng tốt lành, một năm xưng tội một lần, rất ít khi bỏ lễ ngày Chúa Nhật.

Thưa cha, về việc gia đình của con, con đã định sẽ hỏi cha tuyên úy nơi con ở, nhưng cứ mỗi lần định hỏi thì con lại ngập ngừng vì nghĩ rằng sao tự dưng lại “vạch áo cho người xem lưng”. Hoàn cảnh của gia đình con, nơi con ở không ai biết cả, kể cả cha Tuyên úy coi sóc cộng đoàn cũng không biết. Bây giờ viết thư xin cha chỉ giáo, đỡ ngại hơn vì cha không biết con. Chuyện của con như sau:

Năm 1976, sau khi cải tạo ngắn hạn trở về, trong một hoàn cảnh rất vội vàng ở vùng kinh tế mới, con đã gặp một cô giáo cũng bỏ dạy học theo gia đình về vùng kinh tế mới như con. Thời gian vỏn vẹn chỉ có một tháng kể từ ngày quen nhau, để nương tựa nhau thoát khỏi những khó khăn của cuộc sống về mọi phương diện, chúng con đến một giáo xứ gần đó xin gặp cha xứ. Chẳng học giáo lý hay khảo kinh gì cả, hai bên gia đình gặp nhau và cha đã đồng ý cho chúng con đã làm đám cưới trong nhà thờ vào khoảng tháng 3 năm 76. Sống với nhau được hơn một tháng, con không kham nổi sự khó khăn thiếu thốn nơi vùng đồng chua nước mặn, con trốn về Sài Gòn và may mắn thay con vượt biên được và cuối cùng định cư tại Úc.

Sang Úc, con gia nhập ca đoàn và con gặp một cô gái khác. Chúng con có nhiều thì giờ hơn để tìm hiểu nhau. Sau thời gian hơn một năm chúng con làm đám cưới. Vì cả hai đứa đều là ca viên trong ca đoàn nên cha cũng chẳng khảo kinh hay làm khó dễ gì. Con ngây ngô nói với cha rằng con chưa lập gia đình với ai bao giờ.

Chúng con ở với nhau hơn mười năm nay, đã có ba đứa con, chúng nó đều đã được rửa tội. Con vẫn đi nhà thờ và vẫn xưng tội rước lễ, mặc dù nhiều lần vì nghĩ đến chuyện cũ, con không dám rước lễ nữa.

Cuối năm ngoái, con được tin là vợ con ở Việt Nam đã chết. Sau khi được tin, mọi day dứt trong lòng con như được trút bỏ đi hết. Thế là con thoát nợ.

Thưa cha như vậy phép hôn phối của con với người con đang sống chung bây giờ có phải làm lại không?

Kính cám ơn Cha. NVH

***********

Đọc thơ của anh viết, tôi thấy anh ngây ngô thật anh Hào ạ! Từ ngữ “ngây ngô” tôi muốn anh hiểu hết nghĩa của nó: Anh là một thằng đàn ông ngây ngô! Ấy là tôi viết nhẹ nhẹ thôi đấy.

Anh chạy loạn lên vùng kinh tế mới trong một hoàn cảnh đói rách. Trong cái hoàn cảnh khổ não đói rách, nghèo khổ như vậy, anh gặp một người con gái đồng cảnh ngộ, yêu thương nhau, lập gia đình với nhau. Tôi tin là để lấy được người con gái ấy, anh đã thề non hẹn biển với người ta. Cô gái vô phúc ấy tin theo lời ngọt ngào của anh, trao thân gửi phận cho anh để anh “nương tựa thoát khỏi những khó khăn của cuộc sống về mọi phương diện”. Rồi anh dẫy bỏ người ta sau một tháng trời làm vợ làm chồng, “vì anh không kham nổi sự khó khăn thiếu thốn nơi vùng đồng chua nước mặn”. Anh bỏ người ta lại vùng kinh tế mới, anh vượt biên, rồi định cư tại Úc. Anh không hề đề cập gì đến vợ anh cả. Theo như thơ anh viết rằng “ngay sau khi đến Úc anh gia nhập ca đoàn rồi gặp một người con gái khác. Anh coi như người vợ của anh là một món nợ, và khi vợ anh chết, anh đã thoát nợ”. Tôi nghĩ rằng anh là thằng đàn ông duy nhất mà tôi biết “ngây ngô” hay là “ngu ngô” như vậy.

Anh có bao giờ nghĩ đến cuộc sống của người vợ anh tại vùng kinh tế mới kể từ sau khi anh trốn về Sài Gòn rồi vượt biên không? Anh có biết rằng vợ anh đã phải đối đầu với những khó khăn thiếu thốn của cuộc sống về mọi phương diện không? Anh có biết rằng vợ anh chết như thế nào không?

Ở Úc, anh viết rằng anh “ngây ngô” nói với cha rằng anh chưa lập gia đình với ai bao giờ. Tội nghiệp cho ông cha thật thà đã bị anh lừa dối bằng cái hình thức đạo đức giả tạo trong vai trò ca viên trong ca đoàn của anh. Trong câu chuyện này, anh đã không sống xứng đáng là một người đàn ông, anh Hào ạ!

Tuy vậy, qua thư anh, tôi vẫn còn đọc thấy được một chút tâm hồn của con người anh, đó là “nhiều lần anh đã không dám rước lễ vì nghĩ đến chuyện cũ” và tâm hồn ấy là động lực đã thúc đẩy anh viết thư cho tôi.

Tôi xin trực tiếp về hoàn cảnh của anh hiện tại:

Người đàn bà đang sống với anh bây giờ là một người đàn bà vô tội. Anh đã lường gạt người ta vào hôn nhân. Do sự lường gạt này Bí tích Hôn phối anh đã cử hành lần thứ hai không có giá trị theo giáo luật điều 1098, chưa kể đến việc khi cử hành, anh còn đang bị ràng buộc bởi một hôn phối khác theo giáo luật điều 1085. Sự chết của người phối ngẫu không “ô tô mát tích” làm cho anh thoát nợ như anh viết đâu.

Hôn phối hiện tại của anh phải được hợp thức hóa (con-validatio). Để hợp thức hóa  hôn phối thứ hai này, anh phải thật thà trình bày sự việc cặn kẽ với một linh mục, xin linh mục ấy “điều trị tại căn” theo giáo luật điều 1161, vì sự vô hiệu của hôn phối này còn trong vòng bí mật.

Những lần xưng tội hay rước lễ của anh trong thời gian qua chẳng có ơn ích gì cả.

Anh phải tìm cách nào đó để thể hiện vai trò người chồng của anh với người vợ quá cố, nhất là để thể hiện tình bác ái Kitô giáo, thí dụ như cầu nguyện cho chị ấy, liên lạc với gia đình của chị ấy để chia sẻ, an ủi (chưa kể là sau một tháng trời sống chung liệu hai người có con cái gì với nhau không? Và nếu có, hiện nay chúng ra sao?)

Hy vọng rằng sau bằng ấy năm trời, anh đã trưởng thành hơn, đã thoát được ra ngoài cái ngây ngô nguy hiểm đã tạo nên bao nhiêu lầm lỗi thiếu bác ái như vậy. Xin Chúa chúc lành cho anh và gia đình.
by frjoe — last modified 2007-01-13 19:16

This site provided with the assistance of the Davis Community Network.